Chương 1: Vài nét khái quát về nhà thơ Inrasara

>>> Mở đầu

  • Cuộc đời:

Inrasara – một cây bút khá nổi bật trên văn đàn hiện nay với cách viết sắc sảo thể hiện quê hương mình. Và nhất là đối với dân tộc Chăm, ông là người có công mang văn hóa Chăm hòa nhập cùng xã hội hiện đại.

Inrasara tên thật là Phú Trạm, sinh năm 1957 tại làng Chăm Chakleng – Mỹ Nghiệp, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Họ Phú là do nhà Nguyễn đặt cho người Chăm, còn bút danh Inrasara lại là một kết hợp khác: Inra là họ, còn Sara có nghĩa là “muối”. Có lẽ sự mặn mòi của biển và cái nắng cháy của mặt trời mới tạo nên “muối”, một “Sara” đậm đà, khác biệt.

Năm 1969, Inrasara là học sinh trường trung học Pô – Klong, Ninh Thuận. Trong suốt những năm tháng đi học không có sự thay đổi gì nhiều, chỉ có điều sau những ngày đi học hay hè đến, cậu bé Phú Trạm lại đi vào từng làng Chăm, tìm hiểu phong tục tập quán cũng như ghi chép lại những câu dân ca cổ mà người già Chăm hay kể lại. Anh tự học tiếng Chăm cổ, nghe chuyện Chăm và dịch nó ra thành những câu chuyện mà ai cũng có thể đọc.

Năm 1975, mặc dù chưa tới 18 tuổi, Inrasara đã chủ trì vài anh em khác mở lớp dạy chữ Chăm tại quê cho 70 học viên trong vòng hai tháng. Vào thời điểm đó, chiến tranh vừa mới đi qua và việc tổ chức các lớp học rất khó khăn. Nhưng Inrasara đã làm được điều mà ít trí thức Chăm nào thời đó làm được: mở lớp chữ Chăm đầu tiên sau năm 1975.

Tới năm 1977, Inrasara trở thành sinh viên trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng hình như, sống trong môi trường Đại học không thích hợp với con người và tính cách của Inrasara. Và chỉ ngay năm sau đó, năm 1978, ông bỏ học, rời xa môi trường mà theo ông là còn nhiều bảo thủ, cứng nhắc. Ông trở về quê, đi, đọc và làm thơ. Những công việc tưởng chừng như đơn giản nhưng không hề đơn giản, bù lại, ông thỏa sức đi, không bị bó hẹp trong bất kì môi trường nào.

Năm 1981, Inrasara và Nguyễn Văn Tỷ cùng với mười thân hào nhân sĩ Chăm làm và kí đơn thư dài gửi cơ quan các cấp trình bày về trường Pô – Klong, Trung tâm văn hóa Chàm, cơ sở Ban biên soạn, yêu cầu nhà nước cho hoạt động lại.

Tới năm 1982, Inrasara làm nghiên cứu ở Ban biên soạn sách chữ Chăm – Ninh Thuận. Tưởng rằng công việc đã có thể giữ chân “ngọn gió lang thang nơi cánh đồng miền Trung nhỏ hẹp[1]” này, nhưng một lần nữa con đường đi của ông lại rẽ sang một hướng khác, một cách đột ngột và không báo trước.

Năm 1986, ông thôi việc, trở về làng Chăm nghèo khó và làm một anh nông dân. Nhưng người nông dân ấy vẫn cần mẫn đi, nghiên cứu và làm thơ, vẫn cần mẫn trên từng trang viết của Chăm. Cũng trong năm này, Inrasara lấy vợ. Vợ anh tên Thuận Thị Trụ, thường gọi Inrahani đã trở thành nguồn thơ và đề tài thơ trong con người thi sĩ Inrasara. Từ đây Inrasara cũng chuyển sang kinh doanh thổ cẩm Chăm và gắn bó với nó. Ông mở xưởng dệt thổ cẩm, đồng thời đi khắp nơi không nhằm mục đích quảng cáo cho sản phẩm mà là cách để mang văn hóa Chăm giới thiệu với mọi người. Xưởng thổ cẩm Inrahani tại làng Mỹ Nghiệp tấp nập khách vừa để chiêm ngưỡng vẻ đẹp Chăm đồng thời giữ cho bản sắc văn hóa Chăm không bị mai một.

Năm 1992, ông nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu Việt Nam – Đông Nam Á thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh. Lúc này ông có thời gian đi sưu tầm thêm và khảo cứu những giá trị văn hóa dân tộc Chăm. Làm ở Trung tâm nghiên cứu không lâu, tới năm 1998, ông lại đi theo tiếng gọi của trái tim: tự do đi, tự do làm và tự do viết. Ông là nhà văn dân tộc thiểu số duy nhất không do Nhà nước đào tạo. Tự học và phấn đấu từ hai bàn tay trắng và sự nhiệt huyết với mảnh đất đã sinh ra và nuôi lớn mình, làm nên một Inrasara với nhiều thành công như ngày nay.

Inrasara hiện là hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội Văn học – Nghệ thuật các dân tộc thiểu số với công việc nghiên cứu văn hóa Chăm, làm thơ, viết văn, dịch và viết tiểu luận – phê bình văn học. Những thành công ban đầu của ông là sự khích lệ cho những nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu các dân tộc thiểu số khác. Ông là tác giả mà tác phẩm đầu tay đoạt giải thưởng: thơ Hội Nhà văn, nghiên cứu của CHCPI và là người đầu tiên và duy nhất trên toàn miền Nam hai lần nhận giải thưởng thơ của Hội Nhà văn.

Tự viết về mình, cuộc đời ông là những con số:

“Từ 2 đến 5:

Làm chú rể ở Phan Rang 2 lần, hát karaoke 3 lần

Khóc 4 lần, đánh nhau say xỉn 5 lần

Các con số chắc nịch, rõ ràng không mảy may thừa hay thiếu

Từ 6 đến 10:

– Yêu ở Phan Rang 6 lần, đau khổ cũng ngần ấy lần

Giàn lửa không thiêu chết tóc em trưa ấy

Đêm nay nung sôi lồng ngực anh

– Gục ngã ở Phan Rang 7 lần, gượng đứng dậy hơn 7 lần

Vinh quang lớn bé 8-9 lần

Hổ mặt không muốn nhớ mươi lần”

                  (Những ngày rỗng, ngày 8: Sinh chỉ một lần)

  • Sự nghiệp:

Inrasara đã từng tự nói về mình: “Tôi là kẻ lang thang, vào nhiều miền đất, nhiều nền văn hóa: Champa/ Đại Việt, An Độ/ Trung Hoa, Đông phương/ Tây phương, cổ điển/ hiện đại, qua vài ngôn ngữ”[2]. Nhưng kẻ dạo chơi trong vườn văn chương và ngôn ngữ ấy ít nhiều đã để lại những dấu ấn cá nhân của riêng mình, không những bằng giải thưởng văn học danh giá mà còn bằng những đổi mới trong cách viết từ nội dung đến hình thức thể hiện.

Những chặng đường đã đi qua trong cuộc đời Inrasara có những dấu mốc quan trọng không thể nào quên như: năm 1978: bỏ học, đi, đọc và làm thơ. Đến năm 1982, Inrasara làm công việc nghiên cứu ở Ban biên soạn sách chữ Chăm – Ninh Thuận. Những tưởng công việc sẽ níu giữ được đôi chân luôn “lãng du qua miền gió cát” này, nhưng không, năm 1986 Inrasara lại thôi việc, làm nông dân, đi nghiên cứu và làm thơ. Tới năm 1992, ông nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu Việt Nam – Đông Nam Á, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh. Cũng chẳng bao lâu, năm 1998, ông lại trở về với cuộc sống tự do của mình. Có thể nhận ra rằng, mỗi mốc cắm thời gian là mỗi sự thay đổi đến mức đột ngột của con người này.

Nhưng, sự nghiệp của Inrasara chỉ bắt đầu khi sắp bước qua tuổi tứ tuần, có thể là hơi muộn màng so với nhiều người gây dựng sự nghiệp bằng thơ văn. Bù lại, kiến thức về văn hóa xã hội cũng như con mắt sắc sảo của một nhà phê bình đã mang nhiều thành công đến cho ông. Sự nghiệp của ông gắn liền với văn hóa Chăm. Ngòi bút của Inrasara không dừng lại ở lĩnh vực nào, lòng đam mê đã dẫn dắt ông khai hoang trên từng trang viết. Mỗi lĩnh vực ông đều tạo cho mình nét riêng không lẫn. Nhà nghiên cứu, nhà phê bình và nhà thơ bên trong ông phục vụ nhau, bổ khuyết cho nhau để lắng lại ở chiều sâu kiến thức.

Khi xuất hiện, Inrasara chưa được biết đến với tư cách là một nhà thơ mà là một nhà nghiên cứu – sưu tầm – dịch thuật văn bản tiếng Chăm. Viết về lịch sử và kiến trúc Chăm đã có nhiều nhà nghiên cứu tiên phong như: Aymonier, Landes, Durand, Moussay, Thiên Sanh Cảnh… nhưng dường như văn hóa Chăm vẫn chưa được khơi thông đến mạch nguồn, đang dần bị chìm lấp, có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Ý thức được điều đó, Inrasara đã tự mình rong ruổi khắp mọi nẻo đường quê sưu tầm tất cả những gì thuộc về văn học Chăm như trường ca, dân ca, tụng ca, bi kí… Anh nông dân nghèo vừa làm ruộng, vừa cần mẫn sưu tầm, biên soạn văn học Chăm. Từ rất sớm, Inrasara đã nung nấu ý định sưu tầm folklore Chăm. Cứ mỗi kì nghỉ hè, Inrasara lại về các làng Chăm tìm kiếm, ghi chép. Nhưng khó khăn là văn học Chăm chưa được công bố nhiều, còn nằm rải rác trong các “plây”(làng) Chăm. Hơn nữa vì chưa trải qua kĩ thuật in ấn như các nền văn học của các dân tộc khác nên dễ rơi vào tình trạng “tam sao thất bản”. Mặt khác, ngôn ngữ trong các văn bản Chăm là ngôn ngữ cổ rất khó đọc và dịch. Nhưng với lòng nhiệt thành, nhẫn nại và yêu nghề sâu sắc, Inrasara đã không bỏ cuộc. Ông đã có những công trình nghiên cứu đồ sộ, đóng góp rất nhiều vào văn hóa Chăm nói chung.

Công trình “ Văn học Chăm I – Khái luận” (Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội) ra đời năm 1994 là kết quả của sự lao động miệt mài mà nhà nghiên cứu Inrasara đạt được. Công trình dày 1200 trang, in thành ba tập, trong đó gần 300 trang được phân thành hai chương: văn học dân gian và văn học viết. Tác giả đã từng bước dẫn dắt người đọc đi vào 17 thế kỉ văn học của dân tộc Chăm với nhiều dẫn liệu phong phú. Tuy nhiên, ở chương bàn về văn học dân gian, Inrasara đã bỏ quên truyện cười là một mảng văn học dân gian Chăm đặc sắc. Cũng như tiếc là tác giả “tạm gác lại” phần văn bia kí ở chương văn học viết và còn sơ lược khi bàn đến truyền thuyết cũng như truyện cổ tích Chăm. Nhưng Inrasara đã rất thành công ở văn học viết. Có thể nói đây là những đóng góp quan trọng nhất của dân tộc Chăm vào nền văn học Việt Nam. Các tráng ca như: Akayet Dewa Mưno, Akayet Inra Patra… những tác phẩm trường ca trữ tình như: Ariya Bini – Cam, Ariya Cam – Bini, Arya Xah Pakei… những tập thơ về thế sự, thơ triết lí, gia huấn ca… đều được phân tích, xếp loại và giới thiệu một cách khái quát, gây được nhiều hứng thú cho người đọc. Không chỉ là một công trình mang tầm cỡ quốc gia, xây dựng được khái luận chung về nền văn học Chăm đã tồn tại suốt nhiều thế kỉ, công trình này còn nhận được sự quan tâm của các học giả nước ngoài và nhận được giải thưởng CHCPI – Sorbonne (Pháp) ngay vào năm sau đó (1995).

Tiếp tục với công việc nghiên cứu của mình, trong năm 1995, Inrasara đã cho ra đời những công trình tìm hiểu về Chăm – về miền đất đã nuôi lớn ông “bằng bầu sữa ca dao buồn”. Đó là hàng loạt những công trình “Văn học dân gian Chăm – tục ngữ, câu đố” (Nxb. Văn hóa dân tộc và Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.,1995), “Văn học Chăm II – Trường ca, sưu tầm – nghiên cứu” (Nxb. Văn hóa dân tộc, H.,1995), “Từ điển Chăm – Việt” (viết chung) của Nxb. Khoa học xã hội, H., 1995. Tình yêu Chăm, luôn hướng về Chăm cộng với con mắt sắc sảo của nhà nghiên cứu và sự hiểu biết sâu rộng về nền văn hóa đã tồn tại lâu đời, Inrasara được đánh giá khá cao và nhận được giải thưởng của Hội đồng Dân tộc – Quốc hội khóa IX với cuốn “Văn học Chăm II” (1996).

Những thành công ban đầu với tư cách là một nhà nghiên cứu giúp Inrasara bước tiếp trên con đường tìm về cội nguồn dân tộc Chăm. “Từ điển Việt – Chăm” (viết chung) của Nxb. Khoa học xã hội, H.,1996 ra đời trên nền tảng là quá trình tìm hiểu của ông và những đồng sự. Công trình đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, đồng thời nhận được giải thưởng “sách Việt Nam” vào năm 2006.

Cũng trong năm này, Inrasara đã cho ra đời đứa con tinh thần “Tháp nắng – thơ và trường ca”. Inrasara sáng tác từ năm 15 tuổi, không bao giờ gửi thơ đăng báo, mãi năm 40 tuổi tập thơ đầu tay mới ra đời. Đứa con này là những tư tưởng, hoài bão mà cha đẻ của nó đã phải ấp ủ từ những lần phiêu bạt khắp chốn hay tình cảm thiết tha với chốn quê nhà. Và ngay từ lần đầu tiên ra mắt bạn đọc, tập “Tháp nắng” đã có vị trí không hề thấp trên văn đàn thi ca Việt Nam, trở thành cuốn sách chuyền tay của nhiều thế hệ sinh viên. Cùng  với đó là  việc nhận được giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 1997 cho tập thơ đặc sắc này.

Ngay từ lần xuất hiện đầu tiên với tư cách là một nhà thơ, Inrasara đã nhanh chóng khẳng định vị trí của mình trên thi đàn văn học Việt Nam hiện đại. Tự nhận mình là kẻ yêu say mê ngôn ngữ và độ vang của lời có sức lôi cuốn bản thân đặc biệt, Inrasara sáng tác một loạt các tác phẩm, đưa ông trở thành “hiện tượng” thơ ở Việt Nam trong suốt thời gian dài.

Tiếp sau đó tập “Sinh nhật cây xương rồng” – thơ song ngữ Việt – Chăm ra đời năm 1997 cũng đã nhận được của Hội Văn học – Nghệ thuật của các Dân tộc thiểu số Việt Nam.

Năm 1999, Inrasara tiếp tục với công việc nghiên cứu về miền đất quê hương ông. Tiểu luận “Các vấn đề văn hóa – xã hội Chăm” (Nxb. Văn hóa dân tộc, H., 1999) ra đời là một phần trong những nỗ lực của Inrasara nhằm kiếm tìm vẻ đẹp văn hóa Chăm trong giai đoạn hiện nay. Với tiểu luận này ông đã cho thấy một nét đẹp Chăm hài hòa trong ngôn ngữ dân tộc, đồng thời cũng tạo được sự chú ý của giới nghiên cứu đối với nền văn hóa Champa. Để có được điều đó, đòi hỏi người nghiên cứu phải có một nỗ lực phi thường. Bởi trở ngại lớn nhất của người nghiên cứu văn học dân tộc là ngôn ngữ. Ngôn ngữ Chăm thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Dân tộc này có chữ viết từ những thế kỉ đầu Công nguyên. Đây lại là thứ chữ vay mượn từ Nam Ấn qua nhiều biến thể, trở thành Akhar thrah và được lưu truyền đến ngày nay. Mỗi địa phương lại có cách đọc khác nhau. Các tác phẩm văn học cổ Chăm chủ yếu là các bản chép tay, chép trên lá buông, giấy xi măng hay giấy bản Tàu. Đọc được đã khó, để dịch chúng sang tiếng Việt còn khó hơn. Người nghiên cứu phải tìm tòi và học hỏi rất nhiều. Inrasara đã viết rằng: “ Như một ngôn ngữ dân tộc nào bất kì, ngôn ngữ Chăm cũng chịu sự biến động. Vốn từ cũ mất đi hoặc mặc vào nghĩa mới, vốn từ mới được sáng tạo, sinh thành. Nhưng với Chăm, bởi hoàn cảnh đặc thù, nhanh hơn cái được sáng tạo. Mà sáng tạo lại èo uột, chắp vá”[3]. Cùng với đó là sự xuất hiện của tập thơ “Hành hương em”. Tập thơ là tiếng nói của người con xa quê đang trên con đường tìm về với cội nguồn dân tộc mình.

Năm 2002, sự ra đời của tập thơ và trường ca “Lễ tẩy trần tháng Tư” một lần nữa khẳng định bước đi trên con đường thơ của Inrasara. Được đánh giá khá cao, tập thơ là những suy nghĩ về thời cuộc cũng như về tình cảm của người con trước sự đổi thay của người con mang dòng máu Champa này. Đồng thời tập thơ cũng cho ta thấy nét đẹp của văn hóa cổ truyền Chăm còn được lưu giữ tới ngày hôm nay qua hình thức lễ hội. Những người con Chăm dù xa quê hay ở bất kì phương trời nào luôn nhớ về quê trong nỗi khao khát được đắm mình trên dòng sông quê hương để gột bỏ tất cả những vướng bận của đời thường. Nội dung tập thơ không những đặc sắc mà hình thức nghệ thuật thể hiện cũng rất điêu luyện. Tập thơ đã mang lại cho tác giả của nó những giải thưởng xứng đáng hơn cả sự khích lệ trên con đường văn chương của Inrasara. Được đánh giá cao ở trong nước với giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam (2003), cùng với đó là giải thưởng ASEAN – giải thưởng danh giá nhất của văn học khu vực Đông Nam Á.

Năm 2004, Inrasara xuất bản cuốn “Từ điển Việt – Chăm dùng trong nhà trường” (Nxb. Giáo dục, H., 2004)

Năm 2005, tập thơ song ngữ Anh – Việt “The Purification Festival April” ra đời.

Tới năm 2006, hàng loạt những bài viết, tiểu luận phê bình cũng như tập thơ mới ra đời một lần nữa khẳng định sức viết dồi dào của Inrasara. Công việc viết lí luận phê bình của ông đã cập nhật đầy đủ và chính xác nhiều cành nhánh, nhiều xu hướng sáng tạo mới. Thơ Việt Nam hiện nay đang phát triển hết sức phức tạp với nhiều xu hướng, trào lưu khác nhau. Nửa muốn bứt phá, nửa còn loay hoay tìm đường. Vấn đề giảng dạy và nghiên cứu thơ ca Việt nam đương đại chưa được quan tâm đúng mức. Người đọc dường như đang quay lưng lại với thơ. Thi đàn đang vắng bóng các cây bút phê bình, còn người đọc chưa chuẩn bị những tâm thế, kiến thức để thưởng thức thơ hôm nay.

Giữa lúc ấy, Inrasara đã cho ra mắt tập tiểu luận – phê bình “Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo” (Nxb. Văn nghệ, Tp HCM, 2006). Đây là một tài liệu có giá trị với người cầm bút và cả người đọc hiện nay. Sách gồm hai phần: Tiểu luận và phê bình, trong đó gây ấn tượng là phần “tiểu luận”. Tác giả mổ xẻ vấn đề một cách thẳng thắn, phân tích sắc bén, dẫn chứng xác thực. Ông mạnh dạn đề cập đến các vấn đề: Còn ai đọc thơ hôm nay? Bế tắc trong sáng tạo; Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi suffix “nữ”; Thơ – nghĩ và viết; Thơ – viết và nghĩ.

Vấn đề mà tác giả đặt ra “ Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo” là một vấn đề không mới vì thế giới từng có câu châm ngôn: “Cô đơn là mảnh đất tuyệt vời cho sự sáng tạo”. Nhưng ở Việt Nam hầu như ít ai đề cập một cách thẳng thắn, chân thành và mạnh mẽ như Inrasara. “Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo” theo Inrasara bao gồm ba tình trạng: chưa đủ cô đơn cho thai nghén tác phẩm, chưa đủ cô đơn trước tờ giấy trắng và chưa đủ cô đơn khi tác phẩm đã ra đời. Đây là những yêu cầu đang đặt ra với người cầm bút đặc biệt là các cây bút trẻ. Tác giả có sự phân tích sâu và kĩ về những tồn tại của thơ Việt hiện nay như môtip chung chung, phong cách sáo mòn vay mượn, người cầm bút nôn nóng cho ra đời một tác phẩm, kiệt sức trong tư duy dẫn đến bế tắc trong sáng tạo.

Ngoài tập tiểu luân – phê bình trên, Inrasara còn viết nhiều bài phê bình nhỏ về tâm thế sáng tác, chất liệu sáng tác của các nhà thơ đương đại. Ông cho rằng: “Thật khó yêu cầu sự độc sáng ở một nghệ sĩ thời hiện đại. Mỗi sáng tạo là một tiếp nhận – ý thức hay vô thức – cái đã qua. Nhưng khi cái đã qua quá thăm thẳm thì chúng sẽ lạc nhịp hay mất hút với hơi thở người cùng thời”[4].

            Với những ý kiến, nhận định chân thực và sắc sảo, Inrasara được đánh giá là một cây bút phê bình triển vọng. Lâm Tiến đánh giá: “Inrasara là người viết lí luận phê bình nghiêm túc, táo bạo, sắc sảo, đưa ra những vấn đề mang tính lí luận và thực tiễn của quá trình sáng tạo nghệ thuật. Ông quan tâm nhiều đến tiếng nói và chữ viết và vấn đề bản sắc dân tộc trong văn học”[5].

Cũng trong năm 2006, sưu tầm – nghiên cứu “Trường ca Chăm” và “Ca dao – Tục ngữ – Thành ngữ – Câu đố Chăm” ra mắt bạn đọc là những khảo cứu chân thực của tác giả được viết theo lối văn phong sắc sảo, đầy tính thuyết phục.

Trong thời gian này, Inrasara đã đi vào một địa hạt mới để tự khám phá mình. Sự ra đời của tiểu thuyết “Chân dung cát” (Nxb. Hội nhà văn và Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam, 7/2006) đã minh chứng cho điều đó. Tác phẩm là cái nhìn về cuộc sống đương đại hôm nay của một người con Chăm  trước sự đổi thay của thời cuộc cũng như quê hương mình. Nhưng tất cả toát lên trong nó là một gương mặt tinh thần Chăm, chân dung Chăm với tất cả các góc độ, trải dài trong nhiều chiều thời gian: hiện tại, quá khứ, tương lai và cả hồi ức của con người… qua đó ta thấy được sự nặng lòng đối với quê hương và tình yêu bất diệt đối với nơi đã sinh ra Inrasara và nuôi ông khôn lớn. Tiểu thuyết cũng thể hiện sắc thái mới mẻ của ngôn từ, hình ảnh và những khái quát của đời sống. Đồng thời là một bước thể nghiệm lối sáng tác hậu hiện đại “cắt dán” nhiều loại văn bản trong một cuốn sách, đan xen nhiều câu chuyện trong một câu chuyện. Một bước thể nghiệm hoàn toàn mới mẻ.

Sự xuất hiện “Chuyện 40 năm mới kể & 18 bài thơ Tân hình thức” là sự đổi mới trong những trang thơ của Inrasara như một cách đi tìm sức sống mới cho thơ. Với tập thơ này, Inrasara đã bày tỏ một quan niệm thẩm mĩ mới, một thái độ thơ mới thông qua một hình thức thể hiện thơ mới. Đó phải chăng là cách để Inrasara tránh đi vào những sáo mòn về hình thức cũng như nội dung, một cách tiếp cận thơ trên nền hiện thực cuộc sống đang hằng ngày chảy trôi.

Những tác phẩm và nghiên cứu – phê bình nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả cũng như các nhà phê bình. “Ca dao – Tục ngữ – Thành ngữ – Câu đố Chăm” nhận được giải thưởng từ Hội Văn học – Nghệ thuật các dân tộc thiểu số, trong khi đó “Trường ca Chăm” nhận được giải thưởng từ Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam. Tiểu thuyết “Chân dung cát” và tập “Chuyện 40 năm mới kể & 18 bài thơ Tân hình thức” nhận được nhiều phản hồi từ độc giả, điều đặc biệt hơn hết là Inrasara đã tạo được bước đi vững chắc cho mình trên con đường kiếm tìm vẻ đẹp mới.

Như vậy, ngay khi mới xuất hiện, Inrasara đã tạo nên được tiếng nói riêng. Cá tính và bản lĩnh sáng tạo được thể hiện rõ nhất là ở một Inrasara – nhà thơ – con người tự cho mình là sẵn sàng cởi bỏ mọi vướng bận cho cuộc đời để đi lang thang vào nhiều miền đất, nhiều nền văn hóa. Nhưng hơn hết ta thấy ở Inrasara – một người con Chăm, tha thiết với Chăm và viết về Chăm trong niềm say mê khoa học cũng như trong cảm xúc về tình yêu quê tha thiết.

[1] Inrasara, Ngụ ngôn của đất, Nxb. Văn học dân tộc,H., 1997.

[2] Inrasara, Tiểu s, inrasara.com.

[3] Inrasara, Văn hóa- xã hội Chăm, nghiên cứu và đối thoại, tiểu luận, Nxb. Văn học, H., 2003.

[4] Inrasara, Chất liệu ngôn ngữ mới của nhà thơ đương đại, Văn nghệ, số 11, tháng 5/2004.

[5] Lâm Tiến, Mấy vấn đề suy nghĩ về lí luận phê bình của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam, tham luận tại Hội nghị Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số, H.,4/2006.

3 thoughts on “Chương 1: Vài nét khái quát về nhà thơ Inrasara

  1. Pingback: Chương 2: Phương diện nội dung trữ tình trong thơ Inrasara | Cin Corner

  2. Pingback: Chương 3: Phương diện hình thức nghệ thuật trong thơ Inrasara | Cin Corner

  3. Pingback: Chương 4: Inrasara trong tiến trình phát triển dòng thơ văn học thiểu số | Cin Corner

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s