Chương 2: Phương diện nội dung trữ tình trong thơ Inrasara

>>> Mở đầu

>>> Chương 1: Vài nét khái quát về nhà thơ Inrasara

2.1. Thế giới hiện thực từ góc nhìn tâm linh

Cố nhạc sĩ Văn Cao có một câu thơ tài hoa, đẹp như tranh vẽ, từng khắc khảm vào lòng và lay động trái tim bao thế hệ người Chăm: “Từ trời xanh rơi vài giọt tháp Chàm”. Mỗi một chữ dường như co lại, bọc lấy trong đó bao vẻ đẹp, tinh túy của đất trời. Vùng đất có những cơn mưa giông duyên hải, những ngọn tháp thâm u huyền sử và những lễ hội tẩy trần linh thánh ấy thật hợp với chất phiêu lưu trong con người thi sĩ Inrasara. Thế giới hiện thực trong thơ ông được soi rọi qua lăng kính tâm linh mang những nét đời thường đa sắc, đa chiều, chìm đắm trong chất tín ngưỡng suy tưởng, mọi vật tẩy trần tìm đến cuộc hành hương trong niềm tin giải thoát.

2.1.1. Đời thường đa sắc qua lăng kính tâm linh.

Hiện thực đời thường với những cảnh vật và con người Chăm đã được thể hiện khá nhiều trong các loại hình nghệ thuật. Nhìn những bức tượng đất nung qua bàn tay tài hoa của họa sĩ Đàng Năng Thọ, ta vừa thấy nét siêu thoát ở phù điêu trên các ngôi tháp Chàm cổ, đồng thời ta cũng thấy cả bóng dáng rất đời thực của bà mẹ nông dân Chăm ngày nay. Nghe các ca khúc của nhạc sĩ Amư Nhân, mỗi người lại như lạc vào một thế giới Chăm đầy sắc màu và kì bí. Xem những điệu múa dân gian, ta lại thấy được trong đó ước mơ tốt đẹp về một thế giới hiện thực có ý nghĩa. Thế giới hiện thực ấy khi vào thơ Inrasara lại được hiện lên muôn màu trên nhiều mốc thời gian và không gian khác nhau.  Hình ảnh tháp Chàm đi vào thơ Inrasara với đầy đủ trạng thái mà mỗi trạng thái là một biểu tượng đẹp về quê hương vừa linh thánh lại vừa gần gũi. Nhịp vỗ Ginang, Baranưng, tiếng kèn Xaranai và thanh âm sắc màu lễ hội ùa vào thơ đôi khi như kí ức đồng vọng, đôi khi là thực tại tha thiết gọi mời.

“Ngọn tháp cổ” Phan Rang đã có lúc cầm que khô vạch lên vòm cát nơi quê nhà, tự vẽ chân dung mình:

“Tôi,

đứa con của ngọn gió lang thang nơi cánh đồng miền Trung nhỏ hẹp

đứa con của nắng lửa bốn mùa cát trắng hanh hao

đứa con của biển khơi trùng trùng bão thét

và của đôi mắt Chàm mất ngủ xanh xao”

                                                                        (Tháp nắng)

Nhà thơ đến với đời từ cái gian khổ nhọc nhằn của miền đất quanh năm nắng gió bão bùng. Không giấu diếm, nhà thơ tự “bóc trần trái tim mình” như cách nói của Baudelaire để giãi bày, đồng cảm cùng người đọc. Đất quê đã nuôi dưỡng đứa con của mình bằng chất màu tích lũy hàng bao nhiêu thế kỉ. Chất màu đó là tiếng mẹ đẻ, những lời ca dao điệu múa, những truyền thuyết huyền thoại thấm vào hồn từ thưở còn thơ. Chất màu ấy còn là những thanh âm, hình ảnh gợi về từ quá khứ như tiếng sáo diều trầm bổng, vi vút, những con dế râu dài, tiếng mõ trâu lóc cóc chiều quê. Những cái tưởng như nhỏ nhặt tầm thường nhưng khi được gọi về từ tâm thức thì nó trở thành khúc hát lúc rộn rã, lúc u trầm vừa say sưa, vừa da diết.

Lăng kính nhà thơ khi đã tràn đầy những hình ảnh thực tại lại kéo người đọc về quá khứ xa xôi với những gam màu trầm tĩnh hơn:

“Em ngược thời gian, bơi vào quá khứ

Bơi vào huyền sử u uyên

Bơi vào dòng sống cha ông

Bơi vơi hai tay, bơi cả tâm hồn

Bằng nỗi khát của người thèm sống

Em đến Châu Lí, Châu Ô một ngày gió lộng

Thương Huyền Trân bước nhỏ ngập ngừng

Vào Champa mở dòng sử mênh mang

Về xứ lạ như trở về Cố quận”

                                                                        (Quê hương)

Quá khứ đã chìm sâu từ vài thế kỉ được phóng chiếu tới hiện tại bằng những địa danh nổi tiếng một thời. “Người đọc được tác giả lôi kéo trong một cơn say mà rất tỉnh táo, tỉnh mà vẫn say, phát giác và phát giác”[1].

Trong cái thế giới tâm linh ấy, con người cũng trở nên khỏe khoắn, chủ động. Rũ bỏ hết lớp ngoài trần tục, con người hòa mình vào lễ hội linh thiêng:

“Người nông dân nhô từ đồng nhiễm mặn

                                trồi từ đồi cát hanh

                                trôi từ núi đá buồn

người nông dân bay từ phố sáng {…}

Cởi bỏ, rũ bỏ sau lưng quang gánh

ginang, baranưng giục về

từng chuyến mưa nồng nã Katê”

                                                                        (Đêm Chăm)

Những động từ mạnh “nhô”, “trồi”, “trôi” vừa thể hiện được sự vất vả, lam lũ của người nông dân vừa gợi hình ảnh trực tiếp như phơi trần trước mắt người đọc. Có nhiều hình ảnh thân thuộc đời thường luôn trở đi trở lại trong thơ Inrasara như: quê hương, cố quận, con đường, tháp cổ, cây xương rồng…hơi thở cuộc đời chung đúc lại trong thơ. Nhưng thơ không phải là cuộc đời trần trụi mà chính là cuộc đời được lên men qua trải nghiệm tâm linh của chính nhà thơ. Ta bắt gặp những hình ảnh đẹp, xúc động qua đôi mắt nhà thơ:

“Gió trưa tràn bãi trắng

Cha trần thân quần quật cuốc nắng

Cuốc mãi cuốc hoài hút bóng ban mai

Lời ca dao ngấn mỗi vạt ru dài

Rưng rưng hai đầu võng”

                                                            (Nỗi buồn ứng trước)

Tứ thơ lạ, vừa thực vừa ảo, cảnh lao động đời thường đó nhưng lại như là ảo ảnh xa xôi vọng về từ kí ức. Cuộc sống đã được ủ men qua trái tim nóng, được chưng cất để còn lại những gam tinh túy nhất như chất say của rượu nồng. Lãng du qua miền đất nắng gió ấy, hình ảnh những ngôi tháp cổ mọc sừng sững ngang trời đều đọng lại ở mỗi người một xúc cảm riêng. Nhà thơ Chế Lan Viên thấy đó là những ngôi tháp gầy mòn. Với tâm hồn rất nghệ sĩ, Văn Cao thấy đó là những giọt tháp rớt xuống từ trời xanh. Nhà thơ Thu Nguyệt lại nhìn ra hình một dấu chấm than. Còn với Inrasara, đứa con Chăm phiêu lãng phố phường, đứa con thơ ca lưu lạc giữa dòng đời bề bộn thì những ngôi tháp vô tri lai được hóa thân trong những trạng thái khác nhau. Có lúc nhà thơ thấy ngôi tháp lạnh lẽo im lìm, lúc lại thấy hoang sơ như thình lình mọc lên từ đất, lúc lại thấy tháp hóa thân trong nắng đẹp như một dấu lặng phơi bày trên đồi hoang. Những ngọn tháp Chàm là biểu tượng đầy tự hào của dân tộc Chăm, của vương quốc Champa một thời huy hoàng, vàng son:

“700 năm tháp thét gào với bão

300 năm tháp lãng du thế giới cỏ cây

ngàn năm sau tháp chuyện trò cát bụi”

                                                            (Tháp Chàm muôn mặt)

Tháp từ đời thường đi vào tâm thức, huyền bí như một dòng sông chảy trườn qua các triều đại, đánh thức kí ức các dân tộc đang dần ngủ quên. Tháp hòa vào với điệu múa cong cong năm ngón ngũ hành của vũ nữ Apsara, với tượng thần Shiva đầy quyền uy và sáng tạo. Vẫn là tháp, nhưng là ngọn tháp của đồng vọng chốn sương mù tâm linh:

“Đôi lúc

Nửa đêm

Tôi nghe tháp mọc ngang trời”

                                                (Tháp Chàm muôn mặt)

Đời thường như một bức tranh mà người nghệ sĩ dùng chiếc cọ nhiều màu trải hồn mình lên đó. Với Inrasara thì đó còn là đời thường soi chiếu qua tâm linh, tiềm thức. Dòng sông Lu thao thiết vắt qua và chảy đầy trí nhớ. Những người con Chăm ngụp lặn cùng một hơi thở quê hương, thỏa sức tắm gội trên dòng sông mẹ cho kịp lễ tẩy trần.

2.1.2. Chất tín ngưỡng và niềm tin giải thoát

Cuộc sống xô bồ với những bon chen danh lợi, gánh nặng mưu sinh đôi lúc làm ta mệt mỏi, thèm một cảm giác bình an và vô ưu. Thoát ra khỏi vướng bận thường nhật, bước vào thơ Inrasara người đọc sẽ được đắm mình trong những cuộc hành hương và lễ hội linh thánh. Cuộc hành hương ở phía bờ bên kia sông Lu đang vẫy gọi:

“Bên kia những cánh đồng cầu an

            những ngọn đồi mỏi mệt

là đỉnh núi dựng mời vẫy cô đơn tôi vượt qua

bên kia, về phiá bên kia nơi bờ sông quê hương

            tháng Tư đang hành lễ tẩy trần”

                                                            (Tụng ca của nước)

Tất cả những mỏi mệt ưu phiền đang chờ đợi để được chảy đi, chảy trôi tất cả đi, giở sang một vòm trời khác. Hồn thi sĩ Inrasara bắt gặp triết lí đạo Phật tạo nên một sự hòa quyện vừa thực vừa ảo. Thuyết luân hồi kéo người ta ra khỏi suy nghĩ  chết là hết. Đạo Phật coi cái chết nằm trong sự sống và là một phần của sự sống. Mỗi sát na thời gian đều ghi dấu một cảm giác của chúng ta vào hư không. Sát na là chữ của nhà Phật, chỉ một khoảng thời gian rất ngắn. Một thoáng như tia chớp có thể trở thành vĩnh cửu nhưng cũng có khi một cuộc đời trăm năm lại chỉ là một sát na trong đất trời vô thủy vô chung. Mà thi ca lại là sự chớp bắt của cảm giác, chớp bắt tia sáng của nghiệm sinh. Thơ Inrasara mỗi tập đều có những thử nghiệm khác nhau. Đặc biệt ở chùm thơ bảy bài “Những ngày rỗng” và “Lễ tẩy trần tháng Tư” là những thể nghiệm mới mẻ, bản thân những con chữ đã biết thoát xác để dịch biến cùng dòng thời gian và không gian. Chỉ một từ “rỗng” đã diễn tả chính xác tâm trạng nhà thơ trong những ngày không muốn làm gì, nghĩ gì, nói gì cả để mặc cho hồn bỏ ngỏ. Nhà thơ trầm mình vào suy tưởng cho: “trăm con sông nuôi nấng tuổi dại mình

                                                         chảy đầy trí nhớ

                                                         cho ngàn câu thơ thuộc lòng thưở chưa làm thơ

                                                          tràn vào hồn bỏ ngỏ”

                                                                                                (Những ngày rỗng)

nhà thơ quay chậm “những thước phim quá khứ, những dư ảnh hiện về, thấu lọc suy tư, cảm nhận dạng thức, trạng thái thế giới dịch biến, cuộc đời bể dâu. Thế giới huyễn sắc trôi qua con đường huyền thoại trong tư duy Champa những đoạn phim âm bản làm ta rùng mình”[2]

Người thi sĩ  cởi bỏ lọc lõi đời, hư vinh và tất cả để đến với cuộc hành hương về miền tự do:

“Bỏ lại sau lưng những ngôi làng mệt nhoài

            hàng cây đơn điệu, lối cỏ rũ buồn

tôi

ngọn gió, ngọn đồi và ngọn bấc

đi”

                                                            (Hành hương em)

Chất tín ngưỡng thấm buồn của triết lí đạo Phật đòi hỏi được siêu thoát. Đất trời và con người hân hoan trong nghi thức một cuộc lễ tẩy trần. “Lễ tẩy trần tháng Tư” với những bài thơ, câu thơ dài ngắn khác nhau, không cầu kì mà mê đắm. Những bài thơ không vần vè mà nghe bồng bềnh đầy nhạc tính như một lời kinh, một bài thánh ca. Lễ tẩy trần ấy đã được khởi động từ những cuộc hành hương. Nghi thức buổi lễ được nhìn bằng ánh mắt của một đứa trẻ hồn nhiên thảng thốt trước sự linh thánh. Nắng, lửa, vị pháp sư và những lời kinh, tế tụng cất lên đẹp mà lung linh huyền ảo. Nhà thơ nhìn người chủ lễ bằng tâm thức Champa:

“AUM…AUM…AUM…

Ông đã thấy

cửa trời mở như vòng tay người vợ kiếp xưa ông mở

đám mây mùa tràn về như chỏm tóc đứa con trai kiếp sau ông bay về

Ông dang tay

Ông bước tới,đạp tới bằng bàn chân ngày qua còn đẫm bùn

sá gì ngọn lửa lẹt đẹt với tiếng vỗ tay ahei lẹt đẹt

sá gì trống ginăng đánh giục truy đuổi sợ hãi

Ông biến vào lửa Ông nhảy cùng lửa Ông là lửa

sạch lần cuối cùng / sạch muôn ngàn làn nữa

cho thế giới một lần được sạch. Như thế”

                                                            (Lễ tẩy trần tháng Tư)

Tất cả cùng tiếng trống baranưng, trống ginăng nhộn nhịp kính cẩn trong bài kinh lễ nguyện cầu. Nhà thơ phóng to ống kính của nhà nhiếp ảnh chụp lấy quang cảnh buổi lễ, đặc biệt là hình tượng nhập đồng của người pháp sư.

Trong “Lễ tẩy trần tháng Tư”, Inrasara thể nghiệm trạng thái đồng hiện trên nhiều mốc thời gian và không gian khác nhau để cho những con chữ tràn ra từ cảm thức. Lễ tẩy trần là lễ linh thánh đầy hân hoan của người Chăm, được tổ chức vào đầu năm Chăm lịch để tống tiễn cái xấu xa, tẩy rửa cái cũ ra khỏi plây, đón cái mới vào làng. Thân xác, linh hồn con người và tất cả sinh thể, vât thể được tắm gội trên dòng sông, thanh khiết đến với lễ tẩy trần. Inrasara còn khao khát tẩy trần cả những con chữ:

“Buổi sáng – rất sảng khoái, tôi ra sông Lu

gánh theo đầu kia 41 inưr akhar Cham K C T, đầu này nhúm chữ Latinh A B C nhận đầu chúng xuống nước bắt tắm gội từng đứa một

và tôi vui vẻ tắm với chúng”

                                                (Bất ngờ nhiều cái nghĩ tối nay)

Có cái gì đó thật lạ trong cách diễn đạt về lễ tẩy trần kì lạ này. Với hai gánh chữ và một phận đời ôm lấy nhiều phận đời ấy, thằng Klu (con trai Chăm) năm nào hồn nhiên tắm gội và lặng lẽ vẽ mặt mình vào sông. Dòng sông mẹ ngoài đời vẫn thao thiết chảy, rửa trôi những bụi bặm thường ngày. Ở đây, 41 inưr akhar Chăm K C T chính là những chữ cái Chăm và nhúm chữ cái Latinh A B C đang tắm gội cùng Inrasara trong lễ tẩy trần đầy linh thánh. “Và trên dòng sông thi ca, tất cả mọi sáng tạo cái mới, cái hay, cái đẹp đều là của chung, đứng về phía con người, không có ranh giới, sự phân biệt. Thi sĩ, người tắm gội, giao đãi mình trên dòng sông kia đang cất tiếng hát, tiếng hát vừa là lời kinh vừa là lời khước từ chiếc bóng cũ kĩ, chiếc bóng đầy dọa nạt của bản ngã”[3] . Giữa bao xô bồ của cuộc sống, niềm tin vào sự giải thoát chính là sự cứu rỗi linh hồn, đem đến cho con người sự trong sáng, thanh khiết cả thể xác lẫn tâm hồn.

2.2. Sự phức hợp giữa nét truyền thống và cái nhìn mang tính hiện đại

Inrasara được đánh giá là một trong những nhà thơ cách tân nhất Việt Nam hiện nay. Thơ ông có nhiều mạnh dạn trong thể nghiệm. Tuy nhiên, nếu bóc hết lớp vỏ hình thức đi thì nằm trong bề ngoài hiện đại đó là mạch ngầm truyền thống chảy trôi từ bao đời. “Nhà văn ngày nay cần phải căn cứ vào cuộc sống mới và tư tưởng mới mà sáng tạo ra những giá trị mới mẻ phù hợp với yêu cầu thời đại. Nhưng không được thoát li mà phải kết hợp nhuần nhuyễn với truyền thống cũ”[4]. Có thể nói thơ Inrasara đã phản ánh khá tốt cả hai phương diện truyền thống và hiện đại. Nhưng không tách rời mà phức tạp, xâu chuỗi, hòa quyện trên các mặt: nội dung và nghệ thuật. Nắm bắt được mạch nguồn ấy, con đường đến với thế giới nghệ thuật thơ Inrasara sẽ rộng mở hơn và sâu sắc hơn.

Lắng lòng lại người đọc sẽ được thả hồn về với bản thể, với mạch nguồn văn hóa dân gian bao đời của dân tộc Champa. Và khi hòa vào cuộc sống hiện đại chảy trôi, thơ Inrasara đến với người đọc trong những sắc áo mới, hiện đại mà không cầu kì. Sự phức hợp giữa mảng truyền thống và hiện đại trong thơ  Inrasara tạo ra một âm hưởng riêng khó trộn lẫn. Inrasara đã tự nhận mình là người sống giữa hai ngôi nhà Việt – Chăm.

2.2.1. Chân dung Chăm trong cái nhìn truyền thống

Ai đã từng lãng du qua hết các tập thơ của Inrasara sẽ thấy trong đó một người con Chăm lúc nào cũng tha thiết, nồng nàn. Nhiều bài thơ đậm đặc vẻ đẹp Chăm, đầy tự hào và yêu mến.

Tình yêu Chăm bắt nguồn từ những thi phẩm cổ nổi tiếng như Glơng Anak, Pauh Catwai… từ những kí ức tuổi thơ, tắm mình trong nắng mưa, gió cát của xứ sở và thời đại. Chăm hiện lên trong thơ Inrasara trong mọi dáng hình từ cụ thể đến trừu tượng. Đầu tiên là hình ảnh quê hương gầy mòn, khắc khổ qua bút pháp tả thực đến nao lòng:

“Quê hương gầy, quê hương xanh xao

Quê hương không có rặng dừa thơ mộng của ca dao

Quê hương không có cánh cò xa, không có bản tình ca thôn dã

Mây trắng. Mặt trời. Gió trùng dương. Đất. Đá

Quê hương cằn khô nóng bức, nghèo nàn

Quê hương buồn. Quê hương yêu thương.

Quê hương em lũ trẻ con chơi bẩn”

                                                                        (Quê hương)

Chân tình và xúc động, nhà thơ không lẩn tránh thực tại mà tìm thấy nơi quê hương nghèo khó nguồn nuôi dưỡng dồi dào, trong trẻo. Ta bắt gặp hình ảnh nhà thơ trong câu chuyện về con chim quốc và bụi mận gai. Sống trong chiếc lồng chật hẹp, con chim tha thiết kêu đêm ngày “Quốc! Quốc!”. Người chủ nó nghĩ rằng nó nhớ quê, nhớ bầy đàn và có lẽ nơi nó sinh ra phải là một xứ sở giàu có, tươi đẹp. Quyết định thả nó ra, người chủ lồng chim nghĩ nó sẽ bay đến nơi chân trời mơ ước. Nhưng thật lạ, con chim vỗ cánh bay khoảng mười mét liền đậu xuống một bụi gai xơ xác. Nơi sinh ra Inrasara cũng là một nơi sỏi đá, nghèo nàn. Nhưng đó cũng là quê hương của biết bao công trình kiến trúc, nghệ thuật nổi tiếng. Quê hương ấy không ít lần hiện ra nghèo khó, khắc nghiệt như nó vốn có:

Quê hương có những vú đồi khô khốc

Quê hương không có cụm mây che mát trẻ em đầu húi trọc

Không có giọt mưa cho khát lũ trâu gầy

                                                            ( Quê hương )

Nghệ thuật đối lập cái có và cái không đã lột tả chính xác nhất hiện thực cái nghèo. Thi nhân trong cảm xúc về quê hương thường để cho niềm biết ơn, thành kính dâng lên dào dạt nên cảm hứng thường là bay bổng với sức hút của ngôn từ tụng ca. Còn với Inrasara thì nỗi băn khoăn, trăn trở về miền quê nhọc nhằn, lam lũ, vất vả lo toan lại là bằng chứng của một tình yêu quê da diết nhất.

Trong cảm hứng chung, quê hương trong thơ Inrasara là một dân tộc Chăm trong mối quan hệ với 53 dân tộc anh em khác. Quê hương được mở rộng hóa thành đất nước, nơi chung sống thân thiện, hòa đồng như năm ngón tay trên bàn tay có ngón ngắn ngón dài, năm ngón thu vào tạo sức mạnh nắm tay.

Chân dung Chăm trong thơ Inrasara là những hình ảnh cụ thể như thằng Klu (con trai Chăm), plây Chakleng – ngôi làng hơn ngàn năm tuổi, sông Lu – dòng sông mẹ của hơn chục dòng sông, những ngọn tháp Chàm sừng sững. Nhưng cũng có khi chân dung Chăm hiện lên qua những hình ảnh trừu tượng như tiếng trống, tiếng nhạc, điệu múa hay nghi lễ tẩy trần.

Nhưng có lẽ chân dung Chăm hiện lên rõ nét nhất và tiêu biểu nhất là hình ảnh tháp Chàm. Với Inrasara là tháp Chàm muôn mặt:

“Xah Inư cô quả, Tháp Đôi còn vợ mất con, Dương Long đau đời mãn tính

Mỹ Sơn trọng thương trong chiến tranh, hôm nay mặc áo mới

Po Klaung Garai vợ con đủ đầy

Yang Praung trên cao ấy ngàn năm tủi phận con rơi”

                                                                        (Sầu ca trên đỉnh tháp)

Phải là người con Chăm, phải lặn sâu vào bản thể Chăm, văn hóa và cả tín ngưỡng lịch sử Chăm mới thấy hết được những cảnh ngộ và những ngôi tháp ruột thịt như thế. Những ngọn tháp chưa bao giờ lại đa hình, đa dạng, đa chiều và xuất hiện nhiều đến thế như trong thơ Inrasara. Chỉ có thể giải thích bằng tình yêu Chăm tha thiết, dòng máu Chăm đang chảy trong huyết quản kia. Đã có người từng nói: “Nhà văn không viết theo đơn đặt hàng nào được ngoại trừ chính đơn đặt hàng từ trái tim, tâm hồn của anh. Và trái tim đó, tâm hồn đó phải thuộc về dân tộc và đất nước của anh ta”[5] . Trái tim, tâm hồn Inrasara đã, đang và sẽ mãi mãi thuộc về Chăm:

“Con là Chăm ngay ban đầu vỡ ra tiếng khóc

(và còn hơn thế: chín tháng mười ngày trước khi vỡ ra tiếng khóc)

Khi con cắm rễ nơi đây

Hay khi con lang bạt đến tận cùng trời

Con cứ là Chăm cả lúc con cháy lên cùng ngọn lửa cuối đời”

                                                            (Lễ tẩy trần tháng Tư)

Dưỡng nuôi tâm hồn những người con Chăm là nguồn sữa dân gian và những giá trị văn hóa vượt thời gian, là thi phẩm Glơng anak, là trường ca Ariya ngọt ngào, là nhịp vỗ baranưng thổn thức mùa hội hay tiếng kèn Xaranai dặt dìu réo rắt. Tất cả hiện hữu trong một không gian vừa thực tại vừa mông lung sương mù huyền thoại. Inrasara còn nhấn thêm vào đó những địa danh của thời huyền sử như Châu Lí, Châu Ô từ thời Champa mở nước và nàng công chúa Huyền Trân trong bước nhỏ ngập ngừng.

Chân dung Chăm trong cái nhìn truyền thống còn được hiện lên qua những lễ hội tẩy trần:

“Không còn từ để gọi. Ông thét lên. Các từ xếp cánh và lủi mất

chỉ có tiếng thét Ông tràn vào khoảng trống trần gian

A…U…

Ông thét lên

tiếng thét dội đến bầy trâu gặm cỏ đồi xa dỏng tai nghe

oan hồn bị lãng quên ngàn năm đội tro than ngồi dậy

cánh chim giật mình bay ra vội vã quay lại

như sợ bị tranh mất nguồn vui tẩy trần”

                                                            (Lễ tẩy trần tháng Tư)

Đoạn thơ không cầm dựa vào vần, cứ thế cuốn người đọc đi với những hình tượng thơ độc đáo, chắt lọc và cảm xúc.

Dòng sông Lu được nhắc đến trong tác phẩm “Lễ tẩy trần tháng Tư” như dấu ấn về một lễ linh thiêng nhất của dân tộc Chăm. Theo lịch Chăm tháng Tư dương lịch là tháng cuối cùng trong năm. Đó cũng là tháng mà người Chăm làm lễ tẩy trần linh thánh. Lúc nhỏ, Inrasara nhiều lần chen lấn xem điệu cuồng vũ (múa đạp lửa) của Ong Ka – ing trước cửa Kajang, được mẹ dẫn qua sông Lu tham gia cuộc tẩy rửa tập thể. Những kí ức tuổi thơ ngọt ngào ấy theo ông mãi tới tận bây giờ. Và một ngày kia đứng bên bờ dòng sông Sài Gòn, Inrasara thả mình rũ bỏ mọi ưu phiền, nhơ nhớp của cuộc sống khi cho ra dời tập thơ nổi tiếng và đem lại thành công cho ông. Hình ảnh con sông Lu chất chứa bao kỉ niệm tuổi thơ, là nơi tẩy rửa thân xác, linh hồn và cả ngôn ngữ – thứ được con người tạo ra nhưng lại bị con người làm ô uế nhiều nhất – cứ thao thiết chảy mãi, không phải chỉ là con sông Lu của người Chăm nữa mà nó đã mang tính tượng trưng hóa:

“Sông Lu chảy quyết liệt lúc tôi vỡ tiếng

nói đầu đời, sông Lu ẩn mình trong

tôi khi tôi bỏ làng đi lang bạt,

lần nữa sông Lu lại ra đời với

tôi, ngày trở về. Đừng ai hỏi sông

Lu ở đâu, đất Phan Thiết sông Lu

lớn dậy, sông Lu chảy ngang trời Sài

            Gòn, bay Tokyo, tắt

Baghdad, hát cùng sông Eughrates”

                                                                        (Chuyện 4: Sông Lu)

Tất cả con người và sự vật, cái hữu hình và cái vô hình đan xen trong thơ Inrasara làm nên một chân dung Chăm với đủ góc cạnh lập thể, trải dài kéo căng suốt nhiều chiều thời gian: hiện tại, quá khứ, tương lai, hồi ức…trong cái nhìn truyền thống đầy trân trọng và yêu thương. Đôi lúc giọng thơ tràn lên phấn chấn khi nhà thơ bất chợt nhận ra quê hương cằn khô, nóng bức lại chính là nguồn dưỡng nuôi cho hơi thơ lớn dậy. Phải có một tấm lòng sâu sắc mới có thể viết nên những dòng thơ căng tràn, nồng cháy đến thế:

“Quê hương em còn những bàn tay vạm vỡ

Còn những trái tim cháy lửa…

Chính nơi này dòng máu cha ông đã trở về và sẽ ra đi

Làm nhịp đập rộn ràng cho hơi thơ lớn dậy”

                                                (Quê hương)

Nơi đó là nơi nhiều người đã qua, nhiều người đã viết nhưng cảm được và viết được những dòng thơ như từ một trái tim nóng có lẽ chỉ có Inrasara. Nhà thơ trân trọng, nâng niu tất cả, tận tụy như một thầy giáo làng điểm danh những đứa trò thân yêu:

“Điểm danh từng cánh đồng, khu rừng, miếng đất

Điểm danh dòng sông chết, con kênh đào

Điểm danh tất cả đỉnh cao, vũng sâu

Điểm danh người còn, điểm danh kẻ mất

Điểm danh trong ta bao suy tư, cảm xúc

Để chắt qua chiều lớp không – thời gian nguồn suối hơi thơ”

                                                                                    (Quê hương)

Inrasara đã thổi vào hơi thơ trọn vẹn chân dung Chăm với hình thể, hình khối trải dài từ cái hữu hình đến cái vô hình ở trong tâm tưởng. Những cái đó không ở đâu xa mà đều quen thuộc, gắn bó hàng ngày với cuộc sống của mỗi người Chăm. Ta bắt gặp ở đó cái nhìn tự tin, dứt khoát vào hiện thực và vươn tới tương lai:

“Chúng ta nhìn vào mắt nhau không mộng mị

Kí ức chở số phận chúng ta rời bỏ ga buồn”

                                                            (Hạt mùa mới)

Thời gian còn được mở ra nhiều chiều tạo nên cái nhìn biện chứng giữa hiện tại, quá khứ và tương lai, một tinh thần khỏe khoắn, một thái độ minh triết, thiết thực:

“Ta không thể đi vào tương lai bằng giấc mê Quá khứ

Đi vào ngày mai bằng niềm tiếc Ngày qua

Không thể bay cao khi hồn ta còn trì nặng sâu mọt căm thù

Không thể đi xa khi chân còn kéo lê sợi tơ kiêu hãnh hão”

                                                                                    (Quê hương)

Chân dung Chăm được hiện ra nhiều chiều dưới cái nhìn truyền thống trong thơ Inrasara. Gói trong đó là một tấm lòng tha thiết với hồn dân tộc, một trái tim luôn ấp ủ tình yêu với văn hóa và con người Chăm.

2.2.2. Nhân vật trữ tình trong tâm thế cô đơn

Nhà thơ Inrasara đã từng đặt vấn đề cô đơn trong sáng tạo ở tập tiểu luận phê bình “Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo”. Đây là một vấn đề không mới vì trước đó thế giới đã có câu châm ngôn: “Cô đơn là mảnh đất tuyệt vời cho sáng tạo”. Tuy nhiên như Inrasara đã có lần nhận định rằng: “Thật hiếm hoi con người tuổi trẻ hôm nay chịu nghe trong im lặng hơn là ba hoa ồn ào. Càng hiếm hoi hơn nữa con người tuổi trẻ của ngày hôm nay chịu suy tư trong cô độc hơn là thích làm nổi bật mình trong đám đông. Nếu có con người tuổi trẻ như thế, chắc chắn không phải là quái thai của tuổi trẻ mà là tuổi trẻ cư trú trong chiều kích sâu thẳm hơn” (Chưa đủ cô đơn cho sự sáng tạo) . Tâm thế cô đơn là một trạng thái cần thiết mà ở đó nhân vật trữ tình có thể bộc lộ đầy đủ những suy tư của mình, sống thật với lòng mình mà không bị sự ồn ào chi phối bởi ngoại cảnh.

Trong thơ ta bắt gặp bước chân cô độc của Inrasara đã qua các vùng, miền mà ở đó tâm hồn trú ngụ làm thức dậy tâm linh. Nhân vật trữ tình cô đơn giữa chất chồng gánh nặng của cuộc sống:

“Vào một đêm rất khuya

Người từ miền sâu bóng tối

Thức giấc

Trong cô đơn

Có chăng cuộc sống đã chất chồng gánh nặng”

                                                            (Thực tại)

Cuộc sống con người dường như đã quá dư thừa sự ồn ào, náo nhiệt nên khi đến với thơ, cởi bỏ hết mọi ưu phiền, tắm mình trong không khí nhẹ nhàng êm ái trên đỉnh thẳm cô đơn, con người tìm lại được chính mình trong đó. Thơ Inrasara thấm đẫm triết lí nên tâm thức cô đơn dễ làm cho nhân vật trữ tình bộc lộ được cảm xúc. Nói như Nietzsche: “Cô đơn, bạn đi theo con đường dẫn về chính bạn! Và con đường của bạn vượt qua trước bạn và trước bảy con quỷ của bạn!”. Ôm vào mình bao nỗi đời, chấp nhận cô đơn để sống và chết cao hơn cô đơn, đó là thi sĩ:

“Chỉ chúng ta kẻ cư ngụ ngang thời gian

là không rớt lại

Chỉ chúng ta những thi sĩ cô đơn

bằng hơi thở của ngữ ngôn đạm bạc

dậy hơi thở xâu thế kỉ chông chênh”

                                                (Thi ca hôm nay)

Nhân vật trữ tình trong tâm thế cô đơn trước hết đó là thi sĩ. Inrasara đã từng nói đến ba trạng thái cô đơn của người thi sĩ: cô đơn khi thai nghén tác phẩm, cô đơn trước tờ giấy trắng và cô đơn cả khi tác phẩm đã ra đời. Cô đơn ở đây không phải là cái cô đơn cực đoan mà là sự cô đơn để sáng tạo. Là sự độc lập cá nhân, sự độc sáng không vay mượn, rập khuôn. Cô đơn đầu tiên và cuối cùng. Sự cô đơn cần thiết để tạo nên tác phẩm có chiều sâu.

Nhân vật trữ tình còn được mở rộng ra là những người lắng lòng lại trong cô đơn suy tưởng, tắm mình trong lễ tẩy trần để tìm đến sự thanh thoát của tâm hồn:

“Không ở đâu và không bao giờ được hiểu

Cô đơn như vực thẳm cô đơn

Anh vỗ cánh

Về phía gió mùa”

                                                (Trong khoảng tối gió mùa)

Khi chỉ có một mình con người dễ cô đơn. Đó là điều tất yếu. Nhưng khi ở giữa đám đông, giữa không khí ồn ào mà vẫn cảm thấy cô đơn thì khi ấy nỗi cô đơn đã chiếm lĩnh toàn bộ linh hồn và thể xác. Giữa sự nhộn nhịp của phố phường, nhân vật trữ tình bỗng nhận ra khoảng rỗng trong tâm hồn mình. Con người nhiều khi là số đông khi chỉ ngồi một mình nhưng có khi là một mình giữa số đông. Chùm thơ “Những ngày rỗng” dường như không nằm trong dòng chảy chung với các tập thơ khác của Inrasara. Ở đó không có tháp, không có lễ tẩy trần, không có dòng sông linh thánh, mà chỉ có con người hiện đại trong những sinh hoạt đời thường trở đi trở lại. Nhưng thực chất vẫn là một nỗi lòng, một sự trăn trở của một hồn thơ ấy thôi. Vẫn trằn trọc, đau đáu một cái nhìn thi sĩ trước một thế giới xô bồ, một thế giới mà mọi giá trị có thể bị dòng chảy thác lũ của nó cuốn phăng đi. Nhà thơ đã triết lí:

“Đừng đợi khuôn mặt nào bất chợt

Lấp đầy khoảng rỗng anh”

                                                (Khởi động của khởi động)

Khoảng rỗng đó theo Inrasara chính là sự Cô đơn, Tự do và Sáng tạo. Không ai có thể thay thế khoảng rỗng trong lòng mình, sự cô đơn có được giải thoát hay không là ở bên trong mỗi cá nhân. Đó là sự vận động tự thân, mở lòng đón lấy bao vang động của đời khi nỗi cô đơn dâng đến đỉnh cao:

“Toát lạnh

không thể sống, thở, yêu như đã

khoét rỗng vô hạn không gian

thời gian nở nhanh về vô cực

rớt lại tôi cô độc đỉnh buồn”

                        (Những ngày rỗng, ngày 14: Vượt qua Heideger)

Nhân vật trữ tình hiện lên trong nhiều trạng thái cô đơn. Chính tâm thế ấy giúp cho người thi sĩ gặp lại bản thân mình trên hành trình đến với chân trời sáng tạo.

2.2.3. Con người đứng giữa đường biên văn hóa Việt – Chăm

Inrasara thường tự ví mình là một con gà chịu bươi, nòi phiêu lưu trong bươi, sẵn sàng cởi bỏ mọi vướng bận cho cuộc đi. Là kẻ lang thang vào nhiều miền đất, nhiều nền văn hóa, nhiều ngôn ngữ, ông cũng tự nhận mình là kẻ cư trú giữa đường biên văn hóa Việt – Chăm.

Trong cuộc mưu sinh, người Thơ Inrasara đã làm nhiều việc để sinh sống, những việc làm tưởng như rất trái ngược nhau nhưng ông luôn xem những công việc đó như quãng thư giãn cần thiết sau nhọc nhằn sáng tạo. Được nhìn cuộc sống từ nhiều góc độ, trường kinh nghiệm lại càng được mở rộng, ngôn ngữ càng phong phú hơn. Từ nhỏ, Inrasara đã được nuôi dưỡng bằng những câu ca dao Chăm ngọt ngào, những sử thi, truyền thuyết Chăm cổ. Cho nên thơ Inrasara bắt nguồn từ rất sâu, rất xa văn học dân gian quê nhà. Từ cái nguồn đó đã thu được những ánh nắng mới, những âm thanh mới. Khi kết hợp với thơ Việt thì cái chất cổ xưa đã hòa hợp với chất hiện đại trong hai ngôi nhà Việt – Chăm.

Dấu ấn ấy được thể hiện ở ngay cái tên Inrasara – Phú Trạm, tiếng Chăm dịch sang tiếng Việt nghĩa là “sự ra đi”. Vì thế mà Inrasara tự cho mình là kẻ thích phiêu lưu chăng? Thích xê dịch và không gò ép, Inrasara cho rằng mình có hai ngôi nhà để ở. Sống chán cái này thì sang cái kia náu. Tự dịch trường ca cổ điển Chăm sang tiếng Việt và thơ Việt hiện đại sang Chăm. Từ đó ông phát hiện: với Chăm có khá nhiều đóng góp sự khác biệt vào văn chương tiếng Việt, nếu chúng ta biết tìm. Lục bát Chăm chẳng hạn, đây là thể thơ như lục bát Việt nhưng nó linh hoạt hơn trong cấu trúc nên khả năng sáng tạo lớn hơn. Trong sáng tác thơ văn, giá trị là ở sự khác lạ. Cái chúng ta đang ra sức sáng tạo hôm nay nếu hay, đẹp thì sẽ là bản sắc mới góp phần làm giàu nền văn hóa đa dân tộc Việt Nam ngày mai.

Inrasara đã bỏ ra cả thời thanh xuân để gom nhặt những bụi vàng bị vùi lấp từ bao năm của văn học dân gian Chăm, rồi sau đó lại cố gắng đối chiếu các bản cổ để dịch sang tiếng Việt. Đọc cả ngàn cuốn sách để xây nên công trình “Văn học Chăm” (3 tập)  đồ sộ và quý giá, Inrasara xứng đáng được gọi là nhà “Chăm học”

“Một dòng ca dao – một câu tục ngữ

Nửa bài đồng dao, một trang thơ cổ

Tôi tìm và nhặt như đứa trẻ tìm nhặt viên sỏi nhỏ

(những viên sỏi người lớn lơ đãng dẫm qua)

để xây lâu đài cho riêng mình tôi ở

lâu đài mà một ngày kia họ ghé đụt mưa – chắc thế!”

                                                            (Ngụ ngôn của đất)

Tập thơ song ngữ Việt – Chăm “Sinh nhật cây xương rồng” của Inrasara ngay từ khi mới ra đời cũng đã nhận được rất nhiều lời khen và hưởng ứng từ phía bạn đọc đặc biệt là trí thức Chăm. Họ đã đón nhận từ khi tác phẩm còn đang thai nghén. Như vậy đủ để thấy rằng dù sáng tác bằng tiếng Việt hay Chăm, thơ Inrasara cũng dã có rất nhiều đóng góp cho thi ca dân tộc. Là một nhà thơ dân tộc thiểu số nhưng Inrasara đã sáng tác nên những vần thơ bằng tiếng Việt vô cùng linh hoạt và uyển chuyển – điều mà không phải nhà thơ người Kinh nào cũng làm được. Những vần thơ dung dị viết về người cha thân  yêu nhẹ nhàng như hơi thở mà lay động tận đáy lòng:

“Tắt sợi khói cuối cùng

Cha đi. Con chênh vênh ngưỡng chiều mở cửa

Ảm đạm tám mươi năm cha sáng một lần

Vỡ hồn con bằng sương mù kí ức”

                                                            (Dấu chân trầm)

Ở “Lễ tẩy trần tháng Tư” là sự kết hợp, là lối đi giữa hai ngôn ngữ văn hóa Chăm và Việt. Mà theo Lí Đợi thì “đây là cách kể một câu chuyện mang đậm kinh nghiệm cá nhân”[6]:

“Buổi sáng – rất sảng khoái, tôi ra sông Lu

gánh theo đầu kia 41 inưr akhar Cham K C T, đầu này nhúm chữ Latinh A B C nhận đầu chúng xuống nước bắt tắm gội từng đứa một

và tôi vui vẻ tắm với chúng”

                                          (Bất ngờ nhiều cái nghĩ tối nay)

Trường ca “Lễ tẩy trần tháng Tư” gồm nhiều đoạn phân cắt, mỗi đọan gần như là một bài thơ trọn vẹn. Inrasara đã sử dụng lối kết hợp xen kẽ ngôn ngữ Chăm vào bài thơ Việt như là một sự hòa âm chòng chành chữ nghĩa giữa xưa và nay, giữa cái ẩn và cái hiện. Inrasara sử dụng những Akhar thrah (chữ Chăm truyền thống) càng làm tôn thêm tính chất linh thánh của lễ hội tẩy trần với nghi thức linh thiêng của người Chăm. Và cũng thật cảm động khi nhà thơ để cho ngòi bút của mình trôi về thời công chúa Huyền Trân. Cuộc tình ấy đã trở thành biểu tượng của sự hôn phối giữa hai dân tộc Việt – Chăm.

[1] Trúc Thông, Đọc Tháp nắng của Inrasara, Văn nghệ, số 27,1998.

[2] Nguyễn Vĩnh Nguyên, Inrasara: Cãi nhau với bóng của mình, Công giáo và Dân tộc, 2004.

[3]Nguyễn Vĩnh Nguyên, Inrasara: Cãi nhau với bóng của mình, tạp chí Văn hóa Dân tộc, 2003.

[4] Phương Lựu, Lí luận văn học tập 1, Nxb. Đại học Sư phạm, 2002.

[5] Trần Thanh Giao, Đại hội nhà văn lần VII, “Làm thế nào để có tác phẩm văn học hay?”, Hà Nội, 2006.

[6] Lí Đợi, Đọc Lễ tẩy trần tháng Tư của Inrasara, inrasara.com.

2 thoughts on “Chương 2: Phương diện nội dung trữ tình trong thơ Inrasara

  1. Pingback: Chương 3: Phương diện hình thức nghệ thuật trong thơ Inrasara | Cin Corner

  2. Pingback: Chương 4: Inrasara trong tiến trình phát triển dòng thơ văn học thiểu số | Cin Corner

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s