Chương 4: Inrasara trong tiến trình phát triển dòng thơ văn học thiểu số

Mở đầu

Chương 1: Vài nét khái quát thơ Inrasara

Chương 2: Phương diện nội dung trữ tình thơ Inrasara

Chương 3: Phương diện hình thức nghệ thuật thơ Inrasara

4.1. Tiến trình  phát triển của thơ Inrasara

Cố nhà thơ Lê Đạt, người được coi là một trong những nhà cách tân xuất sắc của thơ Việt Nam đương đại, lúc sinh thời thường nói rằng trong động tác chân ông ghét nhất là dậm chân tại chỗ vì nó đi mà vẫn đứng. Một nhà thơ nếu không tự trau dồi kiến thức và sáng tạo nên cái mới thì sẽ tự đẩy mình vào thế dậm chân lặp lại như vậy. Tuy nhiên phát triển nhưng cần phải thống nhất, đổi mới mà vẫn liền mạch. Đọc thơ Inrasara người đọc như đi vào một thế giới với nhiều ngạc nhiên và khám phá thú vị. Từng tập thơ là từng tiếng lòng mà ở đó tư tưởng nghệ thuật ngày càng đổi mới và nâng cao.

Trong rất nhiều gương mặt thơ Việt Nam đương đại, Inrasara nổi bật lên như một hiện tượng. Mặc dù đạt nhiều giải thưởng nhưng nhà thơ cho rằng “giải thưởng, dù to / bé thế nào cũng chỉ nên xem như thứ pit – tông đẩy tác phẩm đến với người đọc nhanh, nhiều hơn thôi chứ nó không làm tăng hay bớt “giá trị” tác phẩm”[1] . Đó có thể là do nhà thơ khiêm tốn, điều quan trọng là những vần thơ Inrasara đã đi vào lòng người, có sức gợi và lay động sâu sắc. Mỗi tập thơ như mỗi tiếng lòng bật ra từ một trái tim đầy yêu thương nhưng cũng đầy trăn trở, thao thức. Hành hương qua xứ sở Champa, như một người hướng dẫn viên, Inrasara đã giới thiệu cho người xem hình ảnh “Tháp nắng”. Tập thơ đầu tay ấy phong phú với nhiều thể loại: thơ có, trường ca có, đoản khúc có. Dường như trái tim người nghệ sĩ dâng tràn cảm xúc nên để cho mạch thơ cứ thế tuôn chảy dồi dào. Giọng thơ đầy sôi nổi thiết tha nhưng đôi lúc lắng lại và trầm tĩnh. Trường ca “Quê hương” như một điểm nhấn, một nốt nhạc vút cao trên bản đàn “Tháp nắng”. Nhà thơ mạnh dạn bỏ qua những ràng buộc vần vè, câu chữ khoáng đạt và phóng túng hơn. Câu thơ dài ngắn đan trong mạch cảm xúc và hình tượng. Dội vào tâm thức người đọc là tình yêu sâu nặng với quê hương qua từng câu từng chữ. Có những hình ảnh cụ thể nhưng gây ấn tượng sâu sắc:

“Ai đang đi kia?

Băng cánh đồng khô chân trần hối hả

Đội giành gốm to đi giữa trưa nắng hạ

Có kịp bữa cơm đám con đói lao nhao?

Ai đang bước kia?

Quẩy bó lúa ướt nhèm đang vượt lội

Bờ vùng thì trơn mà sân hợp tác thì xa”

                                                (Quê hương)

Nhận xét về tập thơ “Tháp nắng” nhà thơ Lò Ngân Sủn cho rằng: “Ngoài các bài thơ khá hoàn chỉnh như “Tháp nắng”, “Tháp hoang”, “Apsara”, “Vay trả”… thơ chính luận, triết luận của anh nhìn chung chưa tới, mới có câu mà chưa có bài, hoặc có nhưng chưa thật hay, thật xuất sắc”[2]. Đó là cách nhìn trên phương diện chính luận và triết luận. Tuy nhiên, bao trùm tập thơ là cảm xúc được thăng hoa từ tình yêu quê hương tha thiết, từ hiện thực đời sống quê nhà.

Rời khỏi “Tháp nắng”, người đọc đến với “Sinh nhật cây xương rồng”. Tập thơ đánh dấu sự định hình và vượt lên chính mình của nhà thơ Inrasara. Hình tượng thơ mang đâm dấu ấn Chăm, người đọc bị cuốn hút vào tứ thơ và cái mới lạ mà nhà thơ gửi gắm:

“Cây xương rồng lạc bước qua triền đồi quê tôi để bị chịu cầm tù trong cát

Ngày qua, mùa qua kiên trì lượm nhặt dưỡng chất trần gian rơi rớt

Miệt mài đứng mảnh đất bạc màu tạo dáng quê hương”

                                                                                    (Sinh nhật cây xương rồng)

Miền đất quanh năm nắng gió ấy chẳng có loài cây nào chịu đựng giỏi như loài cây xương rồng. Cát trắng hanh hao bốn mùa chẳng ngăn được loài xương rồng sinh sôi. Nó vẫn nở hoa trong nắng lửa. Hình ảnh cây xương rồng mang đậm tính tượng trưng. Vóc dáng, sức sống của nó cũng chính là phẩm chất của những người con Chăm, những người Việt Nam. Nhan đề tập thơ “Tháp nắng” và “Sinh nhật cây xương rồng” đều là sự hòa trộn cái xưa và nay, cái truyền thống và hiện đại tạo nên một cảm hứng rất riêng. Nhưng đến “Sinh nhật cây xương rồng”câu chữ được dùng uyển chuyển, linh hoạt hơn nên tạo được độ vang:

Ra đi từ sầu của mây, từ lạc của lòng

Từ bạc của lời, từ im tiếng khóc

Từ lặng câm của đêm đồi trọc {…}

Giấu chút nắng quê hương vào túi

Làm hành trang mai mốt tìm về”

                                                            (Những bước chân xa)

Cảm xúc riêng tư như một lời thầm thì tự nhủ “nghệ thuật bao giờ cũng là hoạt động gắn liền với cảm xúc mạnh mẽ của con người với sự rung động của con tim. Cảm xúc nghệ thuật là một trạng thái đặc biệt của tâm hồn”[3].

Là một người luôn trăn trở để tìm ra cái mới, Inrasara khai hoang trên từng trang viết để không lặp lại người trước, người cùng thời và không lặp lại chính mình. Ông miệt mài nghiên cứu kho tàng tri thức, soi chiếu những mặt chưa được của mình qua thơ bạn. Ông thấy những ước liệu cũ kĩ trong chất liệu đề tài thơ Mai Liễu, từ ngữ sáo mòn trong thơ Lương Định và sự dễ dãi đôi khi trong thơ Lò Ngân Sủn. Từ đó ông mạnh dạn cắt đứt những cái chưa được trong thơ mình. Ông đã rất thẳng thắn, dứt khoát “Lối viết ngây ngô, ngọng ngịu của các tác giả dân tộc thiểu số trong thời gian qua được cả người sáng tác lẫn giới phê bình nâng niu như đậm đà bản sắc dân tộc chỉ là một ngộ nhận đáng buồn. Chúng ta sáng tác bằng tiếng Việt không phải để người Kinh thỉnh thoảng ghé mắt tò mò nhìn mà phải như một tác giả ngang bằng – sòng phẳng và sạch sẽ”[4].

Từ sự thẳng thắn ấy, qua “Tháp nắng” đến “Sinh nhật cây xương rồng”, ông nhận thấy mình cô đơn, chưa thoát ra được nỗi buồn thân phận:

“Ra đi từ nỗi khát của đống rơm hoang

Từ nỗi trâu già nhớ đất xâm canh […]

Ra đi từ cõi mộng xanh

Rồi tha phương ngút mắt tha phương

Rồi thiểu số giữa lòng thiểu số”

                                                            (Những bước chân xa)

Thì đến “ Hành hương em”nhà thơ đã có sự chiêm nghiệm, triết lí một cách sâu sắc. Ít có nhà thơ nào nói về thiên chức của thi ca giản dị mà hay đến vậy :

“Hãy hình dung trăm ý tưởng tài hoa chịu làm vô danh cho tháp Chàm có mặt

Hãy hình dung thêm vạn bàn tay chai sần vì nó, đã ẩn mình

Thì sá chi thơ anh cõi còm chiều ngày tất bật

Hãy thả cho gió bạt chúng về mấy cõi hư vinh

Không vỗ ngực, không tranh hơn

Không trốn chạy trước phận đời thất bát

Những câu thơ buồn

Luôn có mặt nơi khổ đau có mặt”

                                                                        (Ngụ ngôn viết cho mình)

Như vậy tư tưởng Inrasara đã có một bước phát triển mới. Ở đây không còn là nỗi buồn cô lẻ nữa mà đã hóa thân thành nỗi buồn chung đầy tính nhân văn, buồn để cùng chia sẻ. Trong con người thi sĩ ấy luôn rạo rực và trào sôi khát vọng mãnh liệt, đủ để biến nỗi đau thành tiếng hát, biến nhịp tim buồn thành thổn thức lời thơ. Tập thơ “ Hành hương em” có ba phần : “Hành hương em”, “Sông Lu cùng tôi thức đêm nay”, “Những ý tưởng không mùa”. Có những bài thơ tạo được hình ảnh đẹp mà xúc động:

“Tôi sinh ra

Níu

Trần cánh tay cha, sờn lưng áo mẹ

Gầy còng

Tôi níu bóng tháp

Tháp luống tuổi

Tôi níu vào cái không thể níu

Lớn lên”

                                                (Tôi chẳng có gì trầm trọng lắm)

Nhà thi sĩ lớn lên từ nhọc nhằn lam lũ của cha, tảo tần của mẹ và bằng cả những bóng tháp uy nghiêm hay những trường ca, truyền thuyết. Những hình ảnh hết sức đời thường nhưng khi đi vào thơ lại tạo ra được một cảm giác thân thương, quen thuộc và an bình.

Nếu như ở “Tháp nắng” người đọc bắt gặp một giọng thơ mộc mạc, giản dị, ở “Sinh nhật cây xương rồng” nỗi buồn nghiệm sinh, ở “Hành hương em” triết lí và xúc cảm thì đến “Lễ tẩy trần tháng Tư”, cảm xúc thi ca đã chín đầy, chữ nghĩa giàu có tuôn đổ dễ dàng tự nhiên như suối nguồn. Trong trẻo và minh triết. Vẫn là những suy nghiệm nhưng cao hơn, Inrasara đã bước qua đó để đối thoại với cuộc đời và với chính mình. Ở “Tháp nắng” vần vẫn chưa dược dứt bỏ hết thì đến đây lời thơ đã hoàn toàn tự do, thanh thoát. Gây ấn tượng bằng hình tượng thơ và cảm xúc. Với “Lễ tẩy trần tháng Tư”, Inrasara đã thể hiện nhiều nỗ lực đổi mới nhất. Sự đổi mới đó bắt đầu từ sự chuyển hóa tâm thức. Nhà thơ chờ đón lễ tẩy trần để linh hồn và thể xác được gột rửa:

“bên kia, về phía bên kia nơi bờ sông quê hương

tháng Tư đang Lễ tẩy trần

làm sao em song hành cùng tôi về đứng bờ sông đêm nay?

trong đau hoan lạc

hát vang bài tụng ca của nước

chảy đi

chảy đi

chảy trôi đi

chảy trôi tất cả đi…

 giở một vòm trời khác”

                                                                        (Lễ tẩy trần tháng Tư)

Ở  tập  thơ này Inrasara không quá chú trọng câu nệ vào hình thức, bỏ qua những cấu trúc không gian, tạo dựng thời gian đồng nhất, nghe trong lời thơ như là lời đối thoại với nhân vật thứ hai. Nhà thơ đã đứng ra đối thoại, phân biện lí giải với cuộc sống, với chính mình “làm thơ tôi cãi nhau với bóng của mình”. Inrasara trong “Lễ tẩy trần tháng Tư” thực sự đã có giọng thơ riêng của mình, trở thành đại diện đầu tiên, rất xứng đáng của cộng đồng Chăm trên thi đàn Việt Nam. Thơ Inrasara “dào dạt, hồn nhiên, giàu phẩm chất trí tuệ và tính khái quát. Các bài thơ anh không ngắn, nhưng không sa vào kể lể. Thơ anh giàu sức gợi. Gợi vào cái bát ngát hoang dại của kiếp đá, kiếp người, gợi vào cõi xa thẳm của những miền cố quận trong không gia và thời gian”[5] . Tập thơ “Lễ tẩy trần tháng Tư” cũng thể hiện rõ nét nhất tính truyền thống và hiện đại, Việt và Chăm trong nội dung thơ Inrasara.

Có thể thấy qua các tập thơ, sức viết của Inrasara rất dồi dào, ngày càng đạt đến độ “chín” trong nghệ thuật. Tuy nhiên tác phẩm hay nhất của đời người cầm bút là tác phẩm chưa viết ra. Nghệ thuật luôn đòi hỏi sự lao động sáng tạo. Đối  với người thi sĩ thì đôi khi cần cả sự mạnh bạo thử nghiệm để tìm ra cái mới. Ở tập thơ : “Chuyện 40 năm mới kể & 18 bài thơ Tân hình thức”, Inrasara đã thể nghiệm ngòi bút của mình với thể thơ Tân hình thức và Hậu hiện đại. Trước Inrasara cũng có khá nhiều cây bút thể nghiệm hình thức này như Khế Iêm, Bùi Chát, Đinh Linh…

Inrasara đã hình thành nên một thế giới nghệ thuật riêng, một phong cách sáng tạo thơ, trường ca khá đậm nét. Dù có những thể nghiệm mới nhưng phong cách ấy vẫn vận động trên cơ sở thống nhất. Đó là tình yêu quê hương, gia đình, bạn bè và yêu chính bản thân mình:

Nhà thơ đã ý thức được rằng:

“không gì nguy hơn tứ thơ đến khi áp – phe ngập đầu

lời tơ nõn phanh phơi trước đống con số dọa nạt

run rẩy trên lằn ranh sống chết

giấc mơ ngoảnh đi không thể vẫy

xác từ nghẽn lối bảo tàng

con đường tôi mở ra thăm thẳm”

                                                            (Liên khúc chuyện tình vùng cao)

Trong phần hai của tập thơ “Chuyện 40 năm mới kể & 18 bài thơ Tân hình thức” dường như là một cuốn nhật kí thu nhỏ, nhà thơ viết về những chuyện quen thuộc xảy ra trong đời thường. Từng chuyện xâu chuỗi lại như lời ngụ ngôn thâm thúy.

Mỗi tập thơ Inrasara là một khám phá và sáng tạo mới, thể hiện được sự trưởng thành, vươn tới độ “chín” trong sáng tạo nghệ thuật. Phát triển nhưng vẫn có sự đồng nhất trong phong cách, tạo nên một giọng điệu rất riêng giữa bản hợp xướng của thi ca dân tộc thiểu số Việt Nam.

4.2. Thơ Inrasara trên tiến trình thơ ca dân tộc thiểu số

Mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa đều có những bản sắc văn hóa riêng, nổi bật làm nên sự khác biệt cho dân tộc mình với dân tộc khác. Đất nước Việt Nam với 54 dân tộc anh em trên tiến trình cùng phát triển là 54 nền văn hóa cùng nhau tồn tại và hòa quyện với nhau, nhưng mỗi dân tộc đều giữ lại cho mình bản sắc riêng. Xét trên bình diện văn học cũng vậy. Ngay từ thời chưa có văn học viết, văn học dân gian cũng cho ta thấy những bản sắc văn hóa thể hiện những sức sống của dân tộc. Nếu dân tộc Việt có Lạc Long Quân và Âu Cơ với duyên kì ngộ, sinh ra bọc trứng rồi nở thành trăm con đã giải thích sự ra đời và địa điểm cư trú của dân tộc mình, thì sang đến dân tộc Mường với “Đẻ đất đẻ nước” lại giải thích nguồn gốc sâu xa của dân tộc này. Hay như ca dao của người Việt trong tình yêu đôi lứa và số phận người phụ nữ thường được thể hiện bằng những câu hát: “Thân em như giếng giữa đàng / Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân”, hoặc là: “Thân em như tấm lụa đào/ Phât phơ giữa chợ biết vào tay ai”… thì sang đến dân tộc Thái, “cuốn sách quý nhất trong mọi cuốn sách” của dân tộc này là “Tiễn dặn người yêu” với câu mở đầu “Thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa” đã cho thấy những mối liên hệ trong văn học từ trước đến nay giữa nội bộ các dân tộc.

Từ những ví dụ đã dẫn ra ở trên cho thấy, tuy mỗi nền văn hóa có những bản sắc riêng nhưng đều làm nên bản sắc chung cho dân tộc Việt. Trong văn học hiện đại, nhất là trong giai đoạn hiện nay cũng vậy, văn học từ cái gốc cội nguồn của nó đang ngày càng phát triển trên một tiến trình chung. Các nhà thơ dân tộc thiểu số đang hòa mình vào dòng chảy thơ ca dân tộc. Mà nổi bật hơn hết, trong đó có Inrasara – nhà thơ dân tộc thiểu số đầu tiên nhận giải thưởng ASEAN, giải thưởng cao quý cho những đóng góp nghệ thuật của mình. Và thơ Inrasara trên tiến trình thơ ca dân tộc thiểu số ngoài những nét tương đồng còn có những nét khác biệt đáng chú ý đã cho thấy những cách tân về nghệ thuật cũng như nội dung thẩm mỹ của nhà thơ này. Ở đây ta chỉ xét tới những nhà thơ dân tộc thiểu số cùng thời với Inrasara, không đi sâu vào từng giai đoạn trước đó để thấy được thơ Inrasara không chỉ trên dòng chảy thơ ca dân tộc thiểu số mà còn trên dòng chảy thi ca dân tộc hiện đại.

Điểm giống nhau ở Inrasara và những nhà thơ dân tộc thiểu số cùng thời đầu tiên chính là tình yêu dân tộc tha thiết, gắn bản sắc văn hóa dân tộc với những đặc điểm thân quen, thân thuộc. Mỗi một dân tộc luôn mang trong mình những đặc điểm văn hóa không trộn lẫn, nhưng tình yêu thì không có giới hạn, tình yêu luôn mang trong nó những cái gì tinh túy, đẹp đẽ nhất. Nếu Inrasara yêu dân tộc mình bằng tình yêu của đứa con xa quê, luôn hướng về quê khi bước chân phiêu lãng khắp các phương trời. Quê hương là nơi trở về sau bao tháng ngày lưu lạc, và quê hương vẫn đón nhận trong tình yêu đối với đứa con dù đã một lần lầm lỡ:

“Ngày em về quê hương ôm em như chưa từng có em

Như quê hương có em lại rồi sau tháng ngày lưu lạc

Quê hương mãi dõi em đến tận cùng trái đất

Quê hương cho em sức mạnh bàn chân

Sức mạnh của con tim trong, cánh tay trần”

                                                (Trường ca quê hương – Inrasara)

Quê hương là vậy, đẹp đẽ và bao dung như tâm hồn của con người. Để khi người con xa quê lần đầu tiên nhận ra cái tình yêu thiêng liêng ấy thì đã “cúi xuống ghì ôm quê hương như là chưa từng có quê hương”, để cảm nhận hơi ấm trong từng thớ đất quê hương, và hơn hết là mạch nguồn sức sống mà quê hương mang lại.

Nếu mỗi khi xa quê, Inrasara luôn tìm về con đường thân quen, hay tìm về với tháp – biểu tượng của văn hóa Chăm:

“Biết mấy trăm năm rồi tháp đứng

Biển bên kia và tháp bên này”

                                                (Tháp nắng)

thì với những dân tộc khác, mỗi nhà thơ lại tìm cho mình nét độc đáo, đặc sắc của nền văn hóa mà họ đang sinh sống. Với dân tộc Tày, những điệu khèn là âm thanh quen thuộc mỗi đô xuân về:

“Đàn ông cầm khèn bước hối hả

Đàn bà áo chàm nhảy múa theo nhịp chân”

                                    (Phiên chợ – Đoàn Ngọc Minh)

Và khi từng đàn chim tìm về với tổ, con người tìm về với nhau, để “em hát cho ai ngọt điệu khèn”(Lương Định). Rồi vẫn dân tộc ấy lại là tiếng chày miêu tả cuộc sống lao động hăng say của con người vùng cao, “tiếng chày giã cốm nhịp dồn nhanh”(Lương Định). Tất cả như in sâu vào tâm trí của tác giả bởi những âm thanh đã quá quen thuộc, sinh ra đã có, đã thấy và không thể ngăn nó chảy tràn vào tim. Hay như Y Phương, dân tộc Tày trong thơ ông là hình ảnh ngôi nhà thân quen bằng đá hộc, là hình ảnh đàn trâu bò vàng đen đi kìn kịt với cuộc sống yên bình, êm ả. Y Phương còn yêu hơn dân tộc mình khi ông:

“Vẽ lên cát hình thù dãy núi quê hương

Vẽ lên cát mái trường phố huyện

Vẽ lên cát nhà sàn thoáng rộng

Vẽ lên cát người con gái cao cao

Vẽ lên cát thằng bạn đen đen

Vẽ lên cát con nai bú mẹ”

                                                (Anh chiến sĩ áo Chàm – Y Phương)

Những hình ảnh quen thuộc về quê hương cứ hiện ra trong tâm trí, bất kì ai khi đọc cũng thấy tình yêu đối với dân tộc. Y Phương đã lột tả những hình ảnh thân quen trở nên sống động, để rồi khi Mai Liễu cảm nhận Tày của riêng mình trong hình ảnh người con gái thật đẹp đẽ trong lao động: “Người con gái đi lấy chồng / Gánh theo mấy mùa bông trắng”, lại còn “dệt tình vào vuông thổ cẩm” mới thấy hết được nhà thơ yêu mảnh đất dân tộc yên bình như thế nào.

Đến với dân tộc Padí là âm thanh trở nên khá quen thuộc với mỗi người con vùng đất này. Tiếng chim Péc- kà (chim gô) xuất hiện trong thơ của Pờ Sảo Mìn cho chúng ta thấy một tâm hồn luôn gắn bó với dân tộc, với quê hương nơi mình sinh ra và trưởng thành. Hay chính ông cũng đã miêu tả những nét đặc sắc trong văn hóa của dân tộc Padí với:

“Con trai trần trong mặt trời cháy nắng

Ép đá xanh thành rượu uống hằng ngày

Con gái đẹp trong sương giá đông sang

Tước vỏ cây thêu áo đẹp năm tháng”

                                                (Cây hai ngàn lá – Pờ Sảo Mìn)

Có thể nói bản sắc văn hóa đã thành máu thịt, nếu không tha thiết với văn hóa dân tộc mình thì bất kì nhà thơ nào cũng không thể có những vần thơ đẹp, hay và lôi cuốn đến vậy. Chỉ là những hình ảnh sinh hoạt bình thường nhưng khi vào thơ nó đã tạo nên chất đẹp đẽ mà dung dị, thân quen.

Với dân tộc Mường, nhà sàn biểu trưng cho hồn dân tộc, là nơi lưu giữ mọi truyền thống văn hóa, đó cũng là nơi để mọi người tụ họp trong những ngày lễ hay sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Chính vì thế mà Quách Ngọc Thiên đã viết về “Nhà sàn” gần gũi, thân quen đến vậy:

“Để nhà sàn câu ví

Để nhà sàn rượu cần

Để nhà sàn lời ru”

                                                (Nhà sàn – Quách Ngọc Thiên)

Những câu ví, những ché rượu cần còn thoang thoảng mùi hương hay những lời ru đã đi vào thơ một cách tự nhiên, không gượng ép, bởi cái hồn mà những câu chữ thổi vào. Những câu lượn, câu sli như thấm vào hồn của tác giả, thấm vào hồn của người con trong tấm lòng luôn hướng về cội nguồn mình. Cái bản sắc không thể trộn lẫn ấy tạo nên nét nổi bật không chỉ cho thơ mà cho cả dân tộc, cho cái hồn dân tộc mà họ đang từng ngày gìn giữ.

Đến với dân tộc Thái qua những câu thơ của La Quán Miên: “Ăn trầu trong khay / Hút thuốc trong khói” cho thấy tập tục lâu đời không dễ gì từ bỏ của dân tộc này. Hay những hình ảnh quen thuộc hơn thế:

“Nhà tôi mặc áo chàm là bố

Đội khăn “piêu” là mẹ” (Nhà tôi – La Quán Miêu) mới thực là bản sắc dân tộc không thể trộn lẫn.Vậy nên cái tình yêu quê tha thiết, thể hiện hết mình cái bản sắc văn hóa dân tộc ở bất kì ai, bất kì người con nào của dân tộc đều muốn hướng đến, nhưng để thể hiện nó một cách đẹp đẽ, đầy ấn tượng mà vẫn giữ cái hồn dân tộc mới thật sự khó.

Thứ hai, điểm giống nhau giữa Inrasara và những nhà thơ dân tộc thiểu số đương thời còn là sự gìn giữ truyền thống riêng của dân tộc mình, những câu thơ gần với văn học dân gian và lấy chất liệu từ văn học dân gian. Những miền “cố quận” mà Inrasara hay nói tới, với ngôn ngữ thơ được chắt lọc đã cho thấy chất dân gian như đi sâu vào trong tâm khảm của nhà thơ này:

“Ơi miền cố quận xa!

Cố quận kẻ thân yêu ta rơi lại bên bờ

Cố quận bạn bè ta lạc bước bôn ba

Cố quận cuả đêm cháy nồng mùa hạ

Cố quận ta bỏ đi bươn bả

Đang giục ta trở về”

                                                (Đường trở về – Inrasara)

Trong khi đó những nhà thơ dân tộc thiểu số khác lại tìm cho mình chất liệu dân gian lấy từ cuộc sống của chính dân tộc mình. Dân ca Khmer đi vào thơ tự nhiên, đẹp đẽ, đồng thời là cả những tập tục của người dân bản xứ:

“Anh đem bao lời thề thốt

Gánh bao gánh thóc

Dọt bao cối gạo trắng

Đem nơm úp cá

            bắt về làm mâm cỗ

Mang sang nhà

            hỏi em làm vợ”

                                                (Thuận tình – Trần Thanh Pôn)

            Từ những câu ca quen thuộc từ thưở vỡ lòng, tác giả đã lấy đó làm điệu nhạc cho lời thơ của mình, để người con nào cũng có thể ca lên, để rồi sau đó nhớ về quê, tha thiết, da diết. Hay với những câu đề được lấy từ dân gian, những tác giả dân tộc thiểu số đã lấy đó làm nguồn sống cho thơ ca của mình, thật gần gũi, thân quen.   “Nuôi chim bằng muối

                                    Trả chim về trời”

                                                                        (tục ngữ Cao lan)

để rồi những câu thơ cũng từ đó được nảy nở:

Hạt muối có từ đâu?

Sinh ra từ biển mẹ

Cái mặn trong lòng đất

Mẹ chắt chiu tháng ngày”

                                    (Lời anh – Lâm Quý)

Cùng với đó, những truyền thống riêng, chắt lọc từ văn hóa dân gian ấy được thổi hồn bằng những sự vật, hiện tượng quen thuộc, cả những bản sắc văn hóa mà mỗi dân tộc có được. Nếu mỗi người con Mường luôn mang trong mình những câu ca quen thuộc mỗi buổi chợ phiên:

“Phiên chợ Kì Lừa

Nắm nem

Bát rượu

Ngày xuân

Câu lượn

Câu sli”

                                    (Núi và hòn đá lẻ – Lương Định)

thì với dân tộc Chăm của nhà thơ Inrasara có điệu đwa buk, câu ariya:

“Tôi đánh rơi thời gian và tôi lạc mất tôi

tôi lạc mất điệu đwa buk, câu ariya, bụi ớt”

                                    (Đứa con của đất – Inrasara)

Hay những vần điệu đã trở nên quen thuộc, ghi sâu vào trí nhớ mỗi người con Chăm: “Glang Anak, Pauh Catwai phải vội vã

            viết đã rất ngắn

            như thể trối trăng”

                                                (Cha – Inrasara)

Những câu thơ, vần điệu ấy mỗi người con đi xa ai lại không nhớ. Đó là một phần trong cơ thể sống của mình, thiếu vắng nó chính là thiếu vắng phần vừa bình yên vừa đẹp đẽ nhất trong con người. Nguồn dân gian không chỉ nuôi sống tâm hồn con người mà nó còn thể hiện sự trường tồn của một dân tộc, khẳng định mình trong tiến trình đi lên của lịch sử. Và những người con tha thiết với dân tộc thân yêu đang từng ngày để cho dòng chảy dân gian chảy trong thơ mình, để không quên đi nơi mình đã sinh ra và lớn lên, và hơn hết để cho thơ ca dân gian sống cùng thời gian.

Không chỉ thể hiện tình yêu quê hương bằng những hình ảnh thân quen, thân thuộc của quê hương mình, hay gắn quê hương với những văn hóa dân gian đặc sắc, thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số còn được sáng tác bằng tiếng của chính dân tộc mình, tha thiết với tiếng mẹ đẻ. Mỗi nhà thơ mang trong mình dòng máu nơi mình đã sinh ra, ngôn ngữ dân tộc bộc lộ tất cả những tiếng lòng mà họ muốn gửi gắm.

“Thay lời ru bao đời trong kinh kệ

Cha ru con bằng bài hát người Tày”

                                    (Lời người cha Lũng Núi – Lương Định)

Tác giả Cầm Biêu (dân tộc Thái) có những tập thơ in song ngữ như “Anh hồng Điện Biên” (1984), “Bản Mường nhớ ơn” (1994) và “Ngọn lửa không tắt” (1995). Trong khi đó tác giả Lâm Quý (dân tộc Cao Lan) ngoài những tập thơ viết bằng tiếng Việt ra như “Điều có thật từ câu dân ca” (1988), thì còn có những tập thơ được viết bằng tiếng mẹ đẻ như “Kó Làu Slam” (1992, 1994). Còn nhà thơ Nông Viết Toại (dân tộc Tày) thì thành công khi dùng tiếng nói của dân tộc mình để viết thành những vần thơ có giá trị. Ông đã từng có những tập thơ như “Slại Slóa vit pây” (Xấu xa bỏ đi, điều lành trò chuyện, 1956), “Đet chang nâu” (Nắng ban trưa. 1976). Hay như Inrasara (dân tộc Chăm) ngay từ những tập thơ đầu tay của mình cũng đã sử dụng ngôn ngữ dân tộc Chăm song hành cùng ngôn ngữ Việt. Điều đó cho thấy các nhà thơ dân tộc thiểu số luôn tha thiết với dân tộc mình, với tiếng nói và văn hóa mình. Điều đó làm nên điểm chung cho các nhà thơ này.

Trên con đường phát triển của thơ ca hiện nay để tạo ra sự khác biệt, không trộn lẫn không phải là điều dễ dàng. Có nhiều nhà thơ dân tộc thiểu số đã không hòa được mình vào dòng chảy thi ca hiện đại và đang ngày càng bị lãng quên, nhưng trong đó cũng có những nhà thơ đã tự biết vươn mình lên, dám thay đổi, dám thử nghiệm để làm nên nét cá tính của riêng mình. Và Inrasara là một trong số đó, trên con đường phát triển của thi ca ấy ông luôn là người dấn bước, thể nghiệm những điều mới mẻ. Đó chính là điểm khác biệt cơ bản nhất giữa Inrasara và các nhà thơ dân tộc thiểu số khác.

Về nội dung, thơ Inrasara ngày càng hướng đến với xã hội hiện đại, một xã hội dường như chỉ quen với nếp sống vội vã:

“Trong đối thoại bị chối từ

Một ban mai mắc kẹt

Trước bàn tiệc ngút trời

Chúng ta vỏ chai không vứt xó

Trong loạn nhịp vũ khúc cổ

Không ai còn níu được sợi tóc định mệnh mình”

                                                (Trong khoảng tối gió mùa – Inrasara)

Để rồi cuối cùng ông nhận ra “chưa đủ cô đơn cho sáng tạo”, bước chân của con người lữ thứ trên con đường vô định, đi tìm kiếm sự cô đơn giữa xã hội hiện đại. Hòa nhịp vào thế giới hiện đại nhưng để thấy nó đầy rẫy những cô đơn như thế nào. Trong khi đó những nhà thơ đương thời vẫn tìm kiếm hình bóng mình trong văn hóa dân tộc, trong “nhà tôi”, trong “nhà sàn”, trong hình ảnh của những tấm áo chàm, khăn piêu…Xã hội, trong sự biến đổi của nó, rất cần những bản sắc văn hóa được lưu giữ nhưng đồng thời cũng cần cả những cá tính dám đi, dám nghĩ, dám sáng tạo. Mà đối với điều này thì các nhà thơ dân tộc thiểu số còn chưa thực sự hòa vào dòng chảy thi ca hiện đại.

Trong khi những nhà thơ dân tộc thiểu số khác còn quẩn quanh trong thế giới của chính họ và tiếng nói của họ chỉ đại diện cho dân tộc họ, thì Inrasara đã mang tiếng nói của mình, không chỉ đại diện cho dân tộc mình mà còn là tiếng nói của tất cả các dân tộc trên đất nước. Trong thơ ông những hình ảnh về đất nước tươi đẹp là hình ảnh được nhắc tới nhiều và đều gây những ấn tượng sâu sắc:

“chúng tôi lớn lên từ Mĩ Sơn, Dương Long

chúng tôi lớn lên từ nhà yơ, nhà halm /

            chúng tôi cũng lớn lên từ chòi lợp tôn Mĩ

lớn lên từ Panwơc Pađit, Pauh Catwai /

            cũng lớn lên từ Truyện Kiều, thơ Nguyễn Trãi

lớn lên từ nắng, mưa, bão miền Trung /

            cũng lớn lên từ cánh đồng mỡ mầu Tây Ninh, Châu Đốc

từ bùn đất Châu Lí, Châu Ô / cũng từ nước sông Phan Rang,

            Phan Thiết

chúng tôi có biết tên Khổng Khâu, Socrate cả Jasper, Derrida

có đọc lỗ mỗ Dante, Tagore, Sartre, Palmer”

                                    (Bất ngờ nhiều cái nghĩ tối nay – Inrasara)

Hình ảnh về mọi miền quê trên đất nước đi vào thơ Inrasara một cách tự nhiên, không gượng ép. Từ  những hình ảnh thân quen nơi quê nhà đến những hình ảnh xa xôi, tất cả hòa quyện làm thành những vần thơ đầy sức sống. Và có thể nói, những tri thức mà Inrasara có được là nhờ những cuộc đi tìm về địa danh, tất cả là khám phá, tìm hiểu. Ông có thể lớn lên trong những ngôi nhà truyền thống của bà con dân tộc như nhà yơ, nhà halm, nhưng cũng có thể lớn lên giữa ngôi nhà lợp tôn của Mĩ, chỉ cần tâm hồn ông hướng về nơi nào mà thôi. Hay ông có thể yêu những bài thơ, trường ca của dân tộc mình như  Panwơc Pađit, Pauh Catwai nhưng cũng có thể sống cùng và lớn lên cùng văn hóa của người Việt với lịch sử ngàn năm, có Truyện Kiều thấm vào tâm hồn từ thưở nhỏ, có tấm lòng Nguyễn Trãi “đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông”. Và ông có thể lớn lên ở bất kì miền đất nào của Tổ quốc, học tất cả những nhà triết học lớn trên thế giới… điều này đã làm nên một Inrasara khác biệt trong dòng chảy thơ ca dân tộc thiểu số.

Về nội dung Inrasara đã có những cách tân như vậy thì về nghệ thuật cho thấy một cá tính sáng tạo, không trộn lẫn, không chỉ đối với thơ ca dân tộc thiểu số mà còn đối với cả thơ ca hiện đại. Với lối thơ Tân hình thức và Hậu hiện đại, Inrasara đã mang đến một hơi thơ mới. Đồng thời, ông sử dụng những câu thơ dài, ngân vang, như trải lòng mình trước mọi biến thiên của cuộc sống cũng như thời cuộc:

“Con đường vẫn trầm vọng gọi băng qua những tầng dày mò lịch sử dưới sóng lớp phế hưng của vạn ngàn triều đại đã qua và vạn ngàn triều đại sắp tới”

                                                                        (Con đường lửa thiêng – Inrasara)

Cùng với đó là nhịp điệu thơ biến chuyển linh hoạt, không ngắt câu theo bất kì niêm luật nào, cũng như thể thơ ông sử dụng là thể thơ tự do, câu dài ngắn tùy ý muốn. Tuy vậy, sự kết hợp tài tình trong vốn ngôn ngữ được coi là đứng giữa đường biên văn hóa Việt – Chăm này đã làm cho thơ Inrasara trở nên đầy tính nhịp điệu, sự thay đổi đột ngột gây bất ngờ nhưng cũng đày mới mẻ cho người đọc:

“Bàn chân người lữ thứ

Đường trở về

Bước chân người lưỡng lự

Tiếng gọi xa như tiếng gọi gần

Tiếng gọi vọng về từ cố quận quen thân

Hay tiếng gọi dội mãi từ thành tim tư lự”

                                                (Đường trở về – Inrasara)

Có thể nói, trên tiến trình thơ ca dân tộc thiểu số, Inrasara đã cố nhiều sự cách tân và đổi mới so với những nhà thơ cùng thời. Những sự cách tân và đổi mới đó thể hiện một con người khát khao học hỏi những điều mới, lạ mà cuộc sống cũng như thơ ca mang lại. Điều đó cũng chứng minh con người thơ ca Inrasara luôn đi cùng thời đại, hòa vào dòng chảy thi ca hiện đại, làm nên sức sống mới trong thơ. Ông không chỉ là tiếng nói mới trong dòng thơ ca dân tộc thiểu số với nhiều thành tựu nổi bật mà còn là người có nhiều thể nghiệm mới mẻ góp phần vào dòng thơ ca Việt Nam hiện đại.

KẾT LUẬN

Thế giới nghệ thuật thơ Inrasara là thế giới của tâm hồn, tình yêu, cả nỗi đau và sự cô đơn của bản thân trên con đường tìm chân lí sống. Thế giới nghệ thuật ấy được thể hiện bằng ngôn ngữ phong phú, giọng điệu mới lạ và hơn hết là những cách tân đổi mới.

Trên tiến trình phát triển, Inrasara ngày càng đi gần đến với hiện thực đời sống, miêu tả cuộc sống trên bình diện một xã hội mới đầy những biến đổi. Đời sống trong thơ ông không chỉ đầy những nét vẽ tài hoa tươi đẹp mà trong đó còn có cả những tâm tư của con người trước thời cuộc cũng như sự phát triển với tốc độ nhanh chóng để khẳng định bản lĩnh sống. Con người trong cuộc sống không chỉ hưởng thụ cái mà xã hội phát triển mang lại mà còn phải chịu những mặt trái của nó là sự cô đơn cũng như thờ ơ, cách xa nhau về mặt tâm hồn. Trong đó hình ảnh người con tha hương hay người lữ thứ trên con đường lửa thiêng cứ trở đi trở lại, tạo nhiều khắc khoải. Cùng với đó là quê hương, con đường, ngôi nhà… cũng là hình ảnh quen thuộc gợi về những kỉ niệm xa xăm đồng thời là nơi lưu giữ tâm hồn. Thơ Inrasara cũng là sự hòa quyện giữa chất đời thường và tâm linh. Số phận con người trong cuộc sống đời thường cùng với hình ảnh thần Shiva hủy diệt hay vũ nữ Apsara cũng như lễ tẩy trần vào mỗi tháng Tư đã cho thấy con người dù có sống trong cuộc sống hiện đại đến đâu thì chất tâm linh vẫn như là cái bản ngã luôn quay về với thể xác con người.

Để có được những vần thơ in đậm vào tâm trí người đọc như vậy, ngoài nội dung vừa gần gũi, vừa sâu xa, tác giả đã thể hiện bằng thứ ngôn từ phong phú, linh hoạt của riêng mình, không trộn lẫn. Đứng giữa đường biên văn hóa Việt – Chăm, Inrasara không chỉ để cho tâm hồn mình lưu lạc về cả hai phương trời ấy mà ngôn ngữ của ông cũng lãng du qua cả hai miền đất. Tiếng Chăm hòa lẫn trong tiếng Việt tạo nên sức hấp dẫn lạ kì của ngôn ngữ. Cùng với đó là những cách tân về nghệ thuật hết sức độc đáo, mới lạ. Inrasara là một trong những nhà thơ dân tộc thiểu số đầu tiên sử dụng những thành tựu của thơ ca hiện đại một cách nhuần nhuyễn và cũng đã góp phần làm cho thơ ca hiện đại Việt có những tiếng nói và bản sắc riêng. Lối thơ vắt dòng và phân cắt là sự đổi mới về hình thức đồng thời cũng đánh giá khả năng bắt kịp xu thế văn chương hiện đại trên thế giới. Cách sử dụng những câu dài triền miên, bất tận như trải lòng mình với ngôn ngữ. Có thể nói Inrasara là một trong những nhà thơ Việt Nam đầu tiên thử nghiệm lối thơ Tân hình thức và Hậu hiện đại thể hiện một con người thơ luôn đi cùng thời đại.

Cuối cùng, trên tiến trình thơ của mình, Inrasara cùng với những nhà thơ dân tộc thiểu số khác làm nên nét văn hóa riêng của dân tộc mình trong dòng chảy thơ ca dân tộc Việt. Ngoài những điểm giống nhau và dường như là điểm chung của các nhà thơ là niềm tự hào cũng như thể hiện bản sắc dân tộc mình, thì thơ Inrasara cũng có những điểm khác biệt đáng chú ý. Những điểm khác biệt ấy đã làm nên một Inrasara với chất thơ đi cùng thời đại và hòa vào dòng chảy văn chương của thời đại.

Với những đặc điểm về nội dung, hình thức nghệ thuật cũng như thơ Inrasara trên tiến trình thơ ca dân tộc thiểu số, thế giới nghệ thuật trong thơ Inrasara đưa ta đến gần hơn với thơ ca hiện đại và đến với tâm hồn người con luôn day dứt, băn khoăn trước thời cuộc, trước dân tộc mình. Và thế giới nghệ thuật ấy cũng là chìa khóa giúp ta mở cách cửa văn hóa Chăm – một nền văn hóa lâu đời, hào hùng tưởng như đã rơi vào quên lãng.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Báo cáo tổng kết sáng tác và giải thưởng văn học Hội nhà văn Việt Nam 1997.
  2. Nguyễn Tiến Dũng (2005), Chủ nghĩa hiện sinh, lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam. Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội.
  4. Hà Minh Đức (1967), Bùi Văn Nguyên, Thơ ca Việt Nam hình thứcvà thể lọai, Nxb. Văn học, Hà Nội.
  5. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ hiện đại, Nxb. Giáo dục.
  6. Trần Thanh Giao(2006), Đại hội nhà văn lần VII, “Làm thế nào để có tác phẩm văn học hay?”, Hà Nội.
  7. Inrasara (2003), Văn hóa xã hội Chăm, nghiên cứu và đối thoại, tiểu luận, Nxb. Văn học.
  8. Inrasara (1996), Tháp nắng, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.
  9. Inrasara (1999), Hành hương em, Nxb. Trẻ.
  10. Inrasara (1997), Sinh nhật cây xương rồng, Nxb. Văn hóa dân tộc.
  11. Inrasara (2005), Lễ tẩy trần tháng Tư, Nxb. Văn nghệ.
  12. Inrasara(2006), Chuyện 40 năm mới kể & 18 bài thơ Tân hình thức, Nxb. Hội nhàvăn Tp. Hồ Chí Minh.
  13. Inrasara (2006), Chân dung cát, Nxb. Hội nhà văn và Công ty văn hóa & Truyền thông Nhã Nam.
  14. Inrasara (2006), Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, Nxb. Văn nghệ.
  15. Inrasara, Chất liệu ngôn ngữ mới của nhà thơ đương đại, Văn nghệ, số 11, tháng 5/2004.
  16. Khế Iêm, Chú giải về thơ Tân hình thức, tanhinhthuc.com.
  17. Nguyễn Khôi (2006), Các dân tộc ở Việt Nam cách dùng họ và đặt tên, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 167 – 171.
  18. Phương Lựu (chủ biên), Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hoà, Lê Hữu Anh (2002), Lí luận văn học, tập I. Nxb. Đại học Sư phạm.
  19. Nguyễn Đăng Mạnh (2005), Nhà văn Việt Nam hiện đại – chân dung và phong cách, Nxb. Trẻ.
  20. Lương Minh (2004), Lịch sử vương quốc Champa, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
  21. Nguyễn Vĩnh Nguyên, Inrasara: Cãi nhau với bóng của mình, tạp chí Văn hóa Dân tộc, 2003.
  22. Nhiều tác giả (2003), Thơ – nghiên cứu lí luận phê bình, Nxb. Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
  23. Lâm Tiến, Mấy vấn đề suy nghĩ về lí luận phê bình của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam, tham luận tại Hội nghị Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số, H.,4/2006.
  24. Lê Ngọc Trà (2005), Lí luận và văn học, Nxb. Trẻ.
  25. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia (2002), Tinh tuyển văn học Việt Nam, văn học các dân tộc thiểu số, Nxb. Khoa học xã hội.
  26. Từ Nữ Triệu Vương (2005), “Inrasara, nên xem giải thưởng như một thứ pit – tông”, báo Thể thao – văn hóa, (số 86).
  27. Website: http://www.inrasara.com

                       http://www.tanhinhthuc.com

[1] Từ Nữ Triệu Vương, “Inrasara, nên xem giải thưởng như một thứ pit – tông”, báo Thể thao – văn hóa, số 86, ngày 19. 8. 2005.

[2] Lò Ngân Sủn, Đọc Tháp nắng của Inrasara, tạp chí văn, số 70, 8/1997

[3] Lê Ngọc Trà, Lí luận và văn học, Nxb Trẻ, 2005, tr.10.

[4] Inrasara, Văn hóa – Xã hội Chăm, Nghiên cứu và đối thoại, Tiểu luận, Nxb Văn học, 2003

[5] Báo cáo tổng kết sáng tác và giải thưởng văn học Hội nhà văn Việt Nam 1997.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s