Mở đầu

Nghiên cứu này mình và Thu Hương làm cùng nhau từ năm 2007, cách đây gần 10 năm, khi hai đứa là 2 cô sinh viên năm nhất trường Nhân Văn TPHCM. Càng đi sâu vào nghiên cứu thơ, càng thấy thơ có vẻ đẹp ngôn từ mạnh mẽ, và nhất là thơ Inrasara trong thời kỳ đó.

Mình post lại nguyên đề tài nghiên cứu khoa học này để lưu giữ cái thời mà mình đã đam mê như thế nào.

inrasara

Chân dung nhà thơ Inrasara

  1. Lí do chọn đề tài:

Nghệ thuật là yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng luôn đòi hỏi tính sáng tạo, mới mẻ. Và thơ ca cũng không nằm ngoài quy luật này. Độc giả không chấp nhận những cái sáo mòn, cũ kĩ. Tuy nhiên sự sáng tạo và mới mẻ ấy phải đi đôi với sự hấp dẫn, lí thú, nếu không thì tác phẩm cũng chỉ như một bông hoa có sắc mà không có hương. Hành trình đi tìm cái mới, cái hay, cái lạ là một hành trình đòi hỏi nhà thơ phải nỗ lực và đem hết tinh thần, tâm huyết của mình để đi tới chặng cuối con đường. Trên con đường đó, đôi khi cần cả sự dũng cảm thể nghiệm, dũng cảm chấp nhận những thử thách mới.

Ơ Việt Nam, trong khoảng mười năm trở lại đây (1996 – 2007) đã xuất hiện một số cây bút với những thể nghiệm mới mẻ. Trong đó có một nhà thơ được đánh giá là có sự tìm tòi, bứt phá và hầu hết các tập thơ của ông đều được nhận giải thưởng văn học. Đó chính là nhà thơ dân tộc Chăm: Phú Trạm – Inrasara. Điều đặc biệt ông là nhà thơ dân tộc thiểu số đầu tiên của Việt Nam nhận giải thưởng văn học ASEAN, một giải thưởng danh giá, có uy tín trong khu vực Đông Nam Á.

Với sức viết dồi dào, thơ Inrasara ngày càng vươn tới độ “chín” trong nghệ thuật. Ông được coi là một hiện tượng trong giới sáng tác suốt một thời gian dài với sự xuất hiện trên nhiều bài báo khác nhau, với nhiều cuộc tranh luận khác nhau. Tuy nhiên các bài viết về Inrasara nói riêng và thơ Inrasara nói chung chủ yếu là các bài viết nhỏ, các bài phỏng vấn đăng rải rác trên một số báo và tạp chí. Số lượng bài nhiều nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính tổng hợp, đi sâu vào thế giới nghệ thuật thơ Inrasara.

Nếu cách đây không lâu ở miền Bắc có hiện tượng Nguyễn Quang Thiều, thì vài năm sau ở miền Nam có hiện tượng Inrasara, một cây bút cá tính, sắc sảo, nổi bật. Thơ Inrasara là đề tài có nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh, vì vậy khi phân tích sẽ cho ta cái nhìn sâu hơn, bao quát hơn về mọi phương diện trong sáng tác của nhà thơ này. Qua đó cũng thấy được đóng góp của các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam cho nền văn học nước nhà trong thời gian hiện nay.

Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Inrasara” qua các tập thơ đã xuất bản với hi vọng có thể đưa ra cái nhìn toàn diện cũng như ý kiến của cá nhân về thế giới thơ Inrasara, một thế giới cần khám phá và tìm hiểu.

  1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Viết về Inrasara và thế giới nghệ thuật cũng như những cách tân nghệ thuật trong thơ ông, đã có nhiều ý kiến phê bình và nhận định. Những ý kiến và nhận định ấy phần nào cho chúng ta thấy sự quan tâm của các nhà phê bình trên tiến trình văn học hiện nay nói chung cũng như về thơ Inrasara nói riêng. Đồng thời cũng là những đánh giá về nhà thơ dân tộc thiểu số đầu tiên của Việt Nam nhận được giải thưởng ASEAN – giải thưởng  thơ mang tầm khu vực.

Thứ nhất, về mảng chủ đề trong thơ Inrasara, tình yêu quê hương đất nước cũng như những trăn trở trong tiếng gọi quê hương luôn là điều thôi thúc trong tâm trí nhà thơ dân tộc thiểu số này. Trên hành trình đi tìm về với cội nguồn quê hương ấy, Inrasara đã nhận được nhiều ý kiến đánh giá sâu sắc.

Nguyễn Đăng Cương đã nhận định: “Trái tim Inrasara được thắp sáng bởi hai mối tình: Yêu quê hương và mái ấm gia đình. Càng yêu quê hương bao nhiêu, anh càng say mê nền văn học dân tộc bấy nhiêu. Cuộc hành hương gần hai mươi năm đi tìm kho báu văn học Chăm của Inrasara là cả một chặng đường dài khám phá và sáng tạo”. Chính quê hương và gia đình anh là nơi nuôi dưỡng tâm hồn anh, và kho báu của dân tộc là nơi thôi thúc anh đi tìm về cái vẻ đẹp hoang sơ nhưng cũng đầy quyến rũ và kì ảo (Nguyễn Đăng Cương, Người đi tìm kho báu văn học Chăm, báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30.4.1994).

Tình yêu quê hương Inrasara đem gửi cả vào thơ, ngay từ tập thơ đầu tiên đã thấy tình yêu quê tha thiết. Lò Ngân Sủn đã viết về Inrasara như một người con của tháp Chàm bốn mặt trong tình yêu, nỗi nhớ, cả những trăn trở về kiếp sống. Hình ảnh tháp trong tâm trí Inrasara đã khơi nguồn cho từng ý thơ, từng câu thơ. Cũng từ đó mà những di sản người xưa để lại, Inrasara lưu giữ và bảo tồn như báu vật thiêng liêng của chính tâm hồn mình. Những nhận xét đó được Lò Ngân Sủn viết trong bài báo “Đọc Tháp nắng của Inrasara, Văn hóa thổ cẩm”(Nxb Văn hóa dân tộc, H., 1999)

Inrasara yêu quê, và khi tìm về với quê hương yên bình trước những đua chen của cuộc sống đời thường thì “nắng quê hương đã vực anh dậy” như một bà mẹ chỉ đường con đi, như nguồn sức sống trong thơ anh mà không bao giờ cạn kiệt. “Nắng quê hương” đưa anh về với nơi của chính mình, để yêu hơn cái lam lũ mà đẹp đẽ của con người quê anh, yêu hơn tấm chân tình mà thắm đượm của con người xứ sở nơi chỉ có nắng, cát và gió. Và Văn Nghệ với Tâm tình và con người trong thơ Tháp nắng, đã làm nổi bật lên tâm hồn thơ luôn hướng về quê hương xứ sở của Inrasara (tạp chí Văn nghệ Dân tộc & Miền núi, số 04,1998).

Hay như Trúc Thông đã viết về Inrasara với sự cảm nhận sâu sắc về tình yêu trong con người trầm mặc ấy: “Ở Inrasara thì sự nặng tình quê hương đã trở thành khúc hát rộn rã, lúc u trầm, nghe sao mà say sưa, da diết” (Trúc Thông, Đọc Tháp nắng của Inrasara, báo Văn nghệ, số 27, 04.07.1998). Điều đó có nghĩa là, tiếng gọi của cố quận (quê cũ) cũng là tiếng gọi của trái tim. Trong anh quê hương đã đồng nhất với trái tim, với tâm hồn và cả con người anh. Quê hương là phần đẹp đẽ và linh thiêng nhất trong tâm hồn nhà thơ.

Bởi cái tình yêu quê ấy, nên đối với Inrasara “trách nhiệm với quê hương, dân tộc như một nỗi day dứt ám ảnh không nguôi ngoai được” (Nguyễn Vĩnh Nguyên, Có một người hành hương, báo Lâm Đồng, 24.06.2000). Inrasara là một người con luôn có trách nhiệm với xứ sở đã sinh ra anh, nuôi anh khôn lớn. Trong anh, luôn có dòng máu Chăm âm ỉ chảy, yêu quê hương nghĩa là yêu văn hóa Chăm đã tồn tại biết bao đời. Chính vì thế anh âm thầm, bền bỉ đi tìm nhặt những viên ngọc. Cái viên ngọc và kho báu ấy không gì khác chính là văn hóa Chăm đầy bản sắc. Nguyễn Đăng Cương trong bài viết Người đi tìm kho báu văn học Chăm (báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30.4.1994) đã thấy đó là một viên ngọc thô sơ nhưng ẩn trong nó là cả một vẻ đẹp diệu kì. Và với lòng kiên nhẫn, bền bỉ, Inrasara đã mài giũa nó để nó trở thành viên ngọc đẹp đẽ hơn, lấp lánh hơn.

Bước chân Inrasara dù đi khắp mọi nơi, dù qua phương Đông hay phương Tây xa xôi, thì tâm lòng ấy, tình yêu ấy vẫn ở mãi một chỗ, nơi trái tim anh. Và tâm hồn anh thấm đẫm tinh túy của nền văn hóa mà anh đang từng ngày nâng niu, cất giữ. Khi “Đọc Tháp nắng”, Trần Lê Văn đã nhận ra điều đó, nhận ra tinh thần Chăm trong thơ Inrasara, nhận ra tâm hồn đẹp đẽ, gắn bó với văn hóa Chăm (báo Văn nghệ, số 27, 04.07.1998).

Văn hóa đã đi vào thơ, thành đề tài để: “thơ Inrasara bắt nguồn từ rất sâu, rất xa văn học quê nhà”. Quê nhà là nguồn cội cho cảm xúc thơ ca của anh. Khi Trúc Thông “Đọc Tháp nắng của Inrasara” đã bắt gặp chất cổ xưa và cái chất cổ đại gặp nhau rất hòa hợp trong thơ anh (báo Văn nghệ, số 27, 04.07.1998). Cái truyền thống văn hóa Chăm được lưu giữ hàng ngàn đời nay đi vào thơ anh một cách tự nhiên, đầy cảm xúc.

Với tinh thần Chăm như vậy, Inrasara “như người đãi cát tìm vàng trên mênh mông, trong thẳm sâu vùng văn hóa Chăm đã bị cát bụi thời gian phủ đầy…Rồi như một người thợ kim hoàn cần mẫn, Inrasara đã gom tất cả những “bụi vàng” văn học Chăm lưu truyền trong dân gian để đúc thành những “bông hồng vàng” (Lương Định, Inrasara, người đãi cát tìm vàng trên vùng văn hóa Chăm, báo Tiền phong, 03.09.1998). Những gì tinh túy nhất của văn hóa Chăm, Inrasara đã cố công đi tìm, và khi tìm thấy ông lại lọc nó ra khỏi những lớp cát bụi, để nó hiện ra như ánh sáng, như linh hồn và đẹp đẽ như chính cái hoang sơ của nó. Còn Mai Liễu đã “Cảm nhận thơ Inrasara” trong những ấn tượng về một không gian văn hóa Chăm với những buồn vui, mất còn, những trăn trở đam mê” ( Mai Liễu, , báo Tân Trào, 11.1998). Số phận văn hóa Chăm được thể hiện rõ nét trong thơ của người con Chăm, trong tình yêu Chăm tha thiết mà người con ấy đang từng ngày vun trồng cho thế hệ sau.

Viết tiếp về văn hóa Chăm trong thơ Inrasara, Hoàng Quảng Uyên trong bài viết “Yêu Inrasara” đã đưa ra nhận định: “Người Chăm đã đê lại cho đời những tháp Chăm, văn hóa – nghệ thuật (và cả lịch sử) của người Chăm đã tụ cả lại nơi những ngọn tháp ấy và chính Tháp nắng, Tháp hoang, Tháp lạnh đã nâng nhà thơ Inrasara bay cao trên bầu trời thi ca” (Một mình trong cõi thơ, Nxb. Văn hóa Dân tộc, H.,2000). Lịch sử của dân tộc đã khơi nguồn cảm hứng và sức sáng tạo cho thơ Inrasara, nhất là những ngọn tháp – biểu trưng cho nền văn hóa Champa đã một thời huy hoàng rực rỡ, ngày nay vẫn vươn lên cùng nắng và gió Phan Rang. Chẳng đáng ngạc nhiên khi hình ảnh tháp trở đi trở lại trong thơ Inrasara như minh chứng cho sự tồn tại của những nét đẹp văn hóa và nghệ thuật.

Phải chăng, văn hóa Chăm sau thời gian ngủ yên cùng quá khứ, Inrasara như nhà khảo cổ đã khôi phục diện mạo văn hóa Chăm và đưa ra ánh sáng toàn cảnh nền văn hóa đặc sắc. Inrasara đã “bay lên từ tháp cổ” như nhận định của Hà Văn Thùy, bay lên từ nền văn hóa cổ xưa mà đẹp đẽ. Tấm lòng tha thiết với văn hóa Chăm như vậy nên ngay cả trong thơ Inrasara cũng “hay nói đến nỗi buồn, niềm đau và sự kiêu hãnh Chăm”. “Hiện tượng Inrasara” như Trà Chay Pyang nhận thấy phải chăng cũng chính là từ những lí do này, chính từ những cảm xúc vừa buồn đau vừa kiêu hãnh này (Chamyouth.com, 07.2004).

Cội nguồn văn hóa Chăm chính là nơi cho tâm hồn Inrasara cất cánh nên cảm xúc trong thơ Inrasara chính là những cảm xúc về Chăm, về quê hương. Cùng với đó là cảm xúc triết luận được thể hiện một cach rõ ràng và đầy đủ, tạo nên nhiều ấn tượng cho người đọc. Đây chính là chủ đề thứ hai trong thơ Inrasara.

Viết về những cảm xúc triết luận, Nguyễn Vĩnh Nguyên đã đưa ra ý kiến của mình về thơ Inrasara tựa như “Vòm trời sâu thẳm của suy tưởng, triết luận và đắm chìm hơn với những trạng thái, xúc cảm thân phận, cuộc đời”. Chưa dừng lại ở đó, Inrasara còn cho ta thấy “cái cảm giác mộc mạc gần gũi của hình tượng và sự lắng đọng của suy tư, cái bồng bềnh của cảm xúc và sự miên man của triết luận, những trằn trọc của nỗi đời và chút khói sương tâm linh cứ quyện hòa đi tìm nhất thể tính” (Nguyễn Vĩnh Nguyên, Inrasara:cãi nhau với bóng của mình…, tạp chí Văn hóa Dân tộc, số 04.2003). Sự hòa quyện giữa suy tư triết luận và cảm xúc đời thường làm nền cho những hình ảnh thơ bay bổng.

Cùng ý kiến nhận định như trên, Mai Liễu trong một bài viết đã đề cập về thơ Inrasara với cảm xúc chủ đạo là thơ triết luận. “Dù viết về đề tài nào anh cũng muốn đưa ra những lí luận của riêng mình” (Mai Liễu, Cảm nhận thơ Inrasara, báo Tân Trào, 11.1998), cái lí luận nhiều khi chỉ những kẻ tha thiết với chính tâm hồn và cái mà mình đang kiếm tìm mới thấy.  Và có thể nói “thơ Inrasara thấm buồn trong triết lí đạo Phật” (Hoàng Quảng Uyên, Một mình trong cõi thơ, Nxb. Văn hóa Dân tộc, H.,2000)

Đồng thời cũng có những ý kiến khác nhau khi nói đến vấn đề này. Nếu như Mai Liễu, Hoàng Quảng Uyên và Nguyễn Vĩnh Nguyên cho rằng thơ Inrasara đầy tính triết luận thì Lò Ngân Sủn và Nông Quốc Chấn lại có những nhận định khác. Lò Ngân Sủn đưa ra nhận xét: “Có lẽ thơ Inrasara thiên về chính luận và triết luận”, nhưng đó chỉ là “có lẽ”, ngay sau đó là một nhận xét khác: “thơ chính luận, triết luận của anh nhìn chung chưa tới, mới có câu mà chưa có bài, hoặc có nhưng chưa thật hay, xuất sắc” (Lò Ngân Sủn, Đọc Tháp nắng của Inrasara, Văn hóa thổ cẩm, Nxb Văn hóa dân tộc, H., 1999). Hay như nhận xét của Nông Quốc Chấn được trích đăng: “Tôi thấy tác giả thể hiện tâm hồn thi sĩ hơn là tư duy của nhà lí luận” (Phạm Quang Trung, Thơ Inrasara – Phú Trạm, đến từ quan niệm, Thổ cẩm dệt bằng thơ, Nxb. Văn hóa Dân tộc, H.,1999). Nhưng có thể nói, dù là nhà thi sĩ hay là nhà lí luận, Inrasara đều tạo được nét riêng của mình, không trộn lẫn. Tư duy lí luận hòa quyện trong tư duy thơ và ngược lại cảm xúc thơ trong ông làm nền cho cảm xúc triết luận bay bổng.

Nói về cảm xúc thơ trong thơ Inrasara, ngoài tính triết luận, thơ ông còn được nhìn nhận trên nhiều phương diện khác nhau. Văn Nghệ đã thấy ở Inrasara “một giọng thơ riêng, một hơi thơ như cơn dông miền duyên hải cuốn hút ta” (Văn Nghệ, Tâm tình và con người trong thơ Tháp nắng, tạp chí Văn nghệ Dân tộc và Miền núi, số 04,1998). Giọng thơ ấy không chỉ bắt nguồn từ nguồn cội quê nhà, từ nền văn hóa Chăm bao năm cất giữ mà giọng thơ Inrasara còn hướng tới thời đại mới, hòa nhịp với cuộc sống hiện đại. Giọng thơ ấy có khi suy tư về thời cuộc, khi lại thăm thẳm trong tầng sâu ý nghĩa và cảm xúc.

Tính phức hợp trong thơ Inrasara được Trúc Thông nhận ra từ nguồn cảm hứng lặn rất sâu vào dân tộc Chăm, khi “Đọc Tháp nắng của Inrasara” thấy nguồn cảm hứng ấy trải qua những đợt sóng thơ gập ghềnh tới hòa tan vào biển lớn đại gia đình dân tộc Việt Nam. Ơ Inrasara có một cái nhìn sáng suốt trí thức, một trái tim nghệ sĩ dằn vặt, một cảm xúc luôn luôn đòi sôi trào lại luôn luôn đòi kìm nén. Và cảm xúc trong tâm hồn ấy được phát ra từ trái tim khao khát thể hiện mình (báo Văn nghệ, số 27, 04.07.1998).

Viết về nỗi buồn trong thơ Inrasara ta thấy đó là một nỗi buồn không vay mượn bởi vì hơn ai hết nhà thơ là một lữ khách trên “con đường lửa thiêng” hiểu cặn kẽ những biến thiên lịch sử, hiểu nỗi dâu bể cuộc đời, hiểu nhân tình thế thái, hiểu quy luật sự thành – bại, thắng – thua…. Con đường lửa thiêng mà Inrasara đang đi tuy đầy những khó khăn và thử thách nhưng Inrasara vẫn luôn biết cái đích mà mình hướng đến dù chỉ là “Một mình trong cõi thơ”, một mình trong cõi cô đơn tịch mịch của thi sĩ (Hoàng Quảng Uyên, , Nxb. Văn hóa Dân tộc, H.,2000).

Sức sống của cảm xúc trong thơ Inrasara được nhận định: “Thơ Inrasara thật khỏe, không bi lụy mà như cây đại ngàn qua bão táp vươn lên đón nắng trời” (Hà Văn Thùy, Inrasara bay lên từ tháp cổ, tạp chí Văn hóa – Văn nghệ Công an, 11.2000). Cây đại ngàn không sợ phong ba, bão táp, không sợ mọi sức mạnh của thiên nhiên, chỉ một lòng yêu nắng, yêu gió, yêu vẻ đẹp thiên nhiên kì vĩ mà tuyệt diệu. Và khi dựa vào sức sống mãnh liệt ấy “cuộc hành hương Thơ của Inrasara là cuộc rượt đuổi không cùng theo những ám ảnh mà từng giây mập mờ đánh lận con đen là những khám phá vượt thời gian, không gian và vượt qua cả thực tại, tương lai, quá khứ” (Trần Nghi Hoàng, Khởi tố thơ ca: trước tòa thiên nhiên lục thẩm…, Thư viện Việt Nam, 10.05.2005). Có lẽ vì thế mà thơ Inrasara sâu lắng, hay có thể nói như Phan Trung Thành: ‘Inrasara, một thi sĩ đậm đặc chất hồn nhiên nghệ sĩ dân gian” ( Phan Trung Thành, Đài truyền hình VTV3, 2006). Inrasara kiếm tìm chất dân gian từ mọi ngõ ngách của đời sống, từ những kì nghỉ hè đi về những plây Chăm, và hơn hết chất dân gian đã thấm trong tâm hồn thi sĩ.

Để có đựơc những dòng thơ chảy tràn từ tâm huyết của nhà thơ như vậy, ngôn từ và văn phong đều phải có sự chọn lựa. Và Inrasara được coi như người sử dụng một cách nhuần nhuyễn nghệ thuật ngôn từ. Thế giới nghệ thuật thơ Inrasara thể hiện ở mảng thứ ba chính là thế giới của ngôn từ. Nguyễn Quang Trung viết về nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong thơ Inraasara: “Ngôn ngữ đã chắp cánh cho thơ anh, để những gì anh hoài vọng trong âm thầm, trong trắc trở có điều kiện được bay cao, bay xa” (Phạm Quang Trung, Thơ Inrasara- Phú Trạm, đến từ quan niệm, Thổ cẩm dệt bằng thơ, Nxb. Văn hóa Dân tộc, H.,1999). Ngôn ngữ không chỉ là công cụ để diễn đạt ý nghĩ mà nó còn thể hiện những cảm xúc rất thật, rất tinh tế trong tâm hồn thi sĩ Chăm – Inrasara.

Hay khi Inrasara chỉ có Một mình trong cõi thơ  Hoàng Quảng Uyên thấy “anh có lối dùng từ có chọn lọc, gợi, từ đó đã nâng bài thơ lên rất nhiều” (Yêu Inrasara, Nxb. Văn hóa Dân tộc, H.,2000).Không những sử dụng tiếng Chăm một cách thuần thục mà tiếng Việt của Inrasara cũng đạt đến mức điêu luyện: “Tầm vóc văn học của anh trước hết  thể hiện ở chỗ tiếng Việt phong phú, giàu biểu cảm được sử dụng uyển chuyển tới mức tài hoa, điều mà không nhiều lắm tác giả nghười kinh có được” (Hà Văn Thùy, Inrasara bay lên từ tháp cổ, tạp chí Văn hóa- Văn nghệ Công an, 11.2000). Inrasara là người luôn đứng giữa đường biên văn hóa Việt – Chăm, ngôn ngữ trong thơ ông cũng đứng giữa hai đường biên ấy. Và nghệ thuật sử dụng tiếng Việt trong tiếng Chăm, âm Chăm trong âm Việt đã tạo nên nhiều sức hút mới mẻ.

Và ngôn ngữ của Inrasara cũng đầy tính nhạc. Nguyễn Vĩnh Nguyên đã thấy trong những tập thơ của Inrasara với những bài thơ dài, những câu thơ không vần vè mà chòng chành chữ nghĩa và đôi khi bồng bềnh nhạc tính như một lời kinh, một bài thánh ca. Sự nhẹ nhàng và uyển chuyển trong lời thơ cũng như sự tinh tế trong tâm hồn làm nền cho ngôn ngữ thơ bay bổng. Nhưng với tâm thế của mình, Inrasara tự tin đi chông chênh trên sợi dây ngữ ngôn vỡ vạc bằng nhịp điệu suy tưởng. Ngôn ngữ giờ đây không chỉ là cảm xúc của người viết mà như Nguyễn Vĩnh Nguyên đã nhận ra và cho chúng ta thấy “bản thân các con chữ đã biết thoát xác để dịch biến cùng dòng thời gian và không gian”. Đồng thời bản thân Inrasara luôn tự ý thức việc sử dụng nghê thuật ngôn từ có hiệu quả nhất định: “Về ngôn ngữ đã thấy anh chăm chút đến từng hơi thở, khoảng cách sống giữa chữ, nghĩa. Những con chữ đã biết vươn ra một cách tự nhiên hơn và bám rễ vào hồn người”, ngôn ngữ đã thoát ra khỏi cái nghĩa duy nhất của nó là diễn đạt, chính nó đã thể hiện cái tôi cá nhân, cái nét riêng trong thơ và con người Inrasara (Nguyễn Vĩnh Nguyên, Inrasara:cãi nhau với bóng của mình…, tạp chí Văn hóa Dân tộc, số 04.2003).

Inrasara được đánh giá là người “khai hoang trên từng trang viết” ( Hoàng Thiên Nga, báo Tiền phong, ngày 17.9.2003) với sự thể hiện “dòng thơ triết luận, chính luận đầu tiên của nền văn học cổ điển Chăm đựơc viết bằng văn phong của một bậc thầy”. Con người khai hoang ấy tìm thấy vẻ đẹp của chữ nghĩa và ngôn từ, và khai thác nó, để nó biểu hiện mọi điều mà mình hướng tới. Inrasara đã tạo ra “những khúc ca đỉnh tháp” bằng ngôn ngữ của mình, bằng ngôn ngữ Chăm điêu luyện, bằng ngôn ngữ Việt đầy xúc cảm (Vũ Nho, Thơ Inrasara –  những khúc ca đỉnh tháp, báo Thơ, số 16, 10.2004).

Với “Inrasara, Tháp Chàm bốn mặt”, Trà Chân đã cho ta thấy nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ điêu luyện trong thơ, và trong hình bóng tháp Chàm kia là niềm đam mê ngôn ngữ dân tộc, thể hiện một chất ngôn ngữ đậm và sáng, nhiều sự chuyển đổi cảm giác, liên tưởng, không thiếu ngọt ngào, bay bổng. Ngôn ngữ trong thơ Inrasara thể hiện nhiều mặt đời sống xã hội, qua đó cũng thể hiện tâm tư, tình cảm của người con Chăm đối với quê hương, xứ sở.

Tuy vậy, cách sử dụng ngôn ngữ của Inrasara cũng nhận được những nhận xét khác. Trúc Thông viết về ngôn ngữ của Inrasara đã “mang được một số ưu thế cảm thụ và diễn đạt của thơ hiện đại phương Tây, anh chợt không tránh khỏi tì vết là tính quá rõ ràng và đủ đầy của nó” (Trúc Thông, đọc Tháp nắng của Inrasara, báo Văn nghệ, số 27, 04.07.1998). Hay nhận định: “Những từ ngữ tác giả dùng đắt, có khi sáng tạo – làm giàu thêm cho ngôn ngữ dân tộc (tiếng Việt), song có những từ ngữ, liên kết ngữ “đột ngột” chưa được xã hội chấp nhận nên lạ tai, khó hiểu” (Hàn Anh, Nhà thơ Inrasara: kẻ lãng du qua miền gió cát…). Những nhận định khách quan ấy cho ta thấy sự quan tâm của các nhà phê bình đối với các nhà thơ dân tộc thiểu số nói chung và nhà thơ Inrasara nói riêng. Qua đó các nhà phê bình cũng thể hiện sự lưu tâm đến ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ trong đời sông hiện đại đang hằng ngày biến đổi.

Để có được những ngôn từ đầy tính nghệ thuật như vậy, Inrasara đã kết hợp tính truyền thống và hiện đại. Đây là đề tài thứ tư mà thế giới nghệ thuật thơ Inrasara đề cập đến. Lò Ngân Sủn nhận định: “Thơ anh là thơ hiện đại, lại rất gần với thơ Việt từ giọng điệu, ngôn từ, cách thể hiện, mặc dù nội dung tư tưởng, tình cảm trong thơ anh vẫn luôn hướng về người Chăm, nhiều khi đến day dứt, dằn vặt” ( Lò Ngân Sủn, Đọc Tháp nắng của Inrasara, Văn hóa thổ cẩm, Nxb Văn hóa dân tộc, H., 1999). Thơ với hơi thở hiện đại nhưng vẫn không quên hình ảnh quê nhà. Và hình bóng quê hương luôn thường trực, nhắc nhở Inrasara trong từng khoảnh khắc cuộc sống.

Nếu nhận định trên chỉ là khoảng cách giữa thơ Chăm và thơ Việt thì nhận định từ Trúc Thông chính là con đường thơ từ quá khứ tới hiện đại: “Sử liệu đã cũ đến vài thế kỉ cùng chói sáng với sự gắn kết phóng chiếu tới hiện tại” (Trúc Thông, đọc Tháp nắng của Inrasara, báo Văn nghệ, số 27, 04.07.1998). Con đường ấy không phải dễ dàng nhưng sự kết hợp những nét tinh tuý trong cổ điển với hiện đại đã làm nên một Inrasara không thể trộn lẫn, không bị xóa mờ.

Đồng thời, viết về quê hương trong sự soi chiếu giữa hiện tại và quá khứ cũng là một nét mới mẻ. Trong đó tình yêu sâu nặng với quê hương ca hát bằng tiếng thơ đằm thắm, cội nguồn cổ kính mà âm điệu tân kì. Những Tháp nắng mà Trần Lê Văn thấy và đọc qua thơ Inrasara chính là “sự soi chiếu cổ điển và hiện đại” (Đọc Tháp nắng, báo Văn nghệ, số 27, 04.07.1998). Sự cách biệt truyền thống – hiện đại còn được miêu tả như một “người hành hương” giữa Ariya và thơ ca hiện đại, cách tân. Mà con người hành hương đó dù sống trong cuộc sống hiện đại vẫn không quên được những bản trường ca Ariya, vẫn đi tìm về miền “cố quận” trong tiếng gọi quê hương (Nguyễn Vĩnh Nguyên, Có một người hành hương, báo Lâm Đồng, 24.06.2000).

Không những kết hợp chất thơ nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại, Inrasara luôn tự ý thức làm mới mình: “Luôn làm mới – đó là cái nổi bật của Inrasara. Cái mới đó luôn vượt quá tầm của người đồng thời” (TVK, Inrasara – thiên tài hoang dại, Chamyouth.com, 2005). Từ sự làm mới đó Inrasara tự nói về mình: “Lớn dậy từ văn hóa Champa, nền văn hóa hình thành sớm và thành tựu lớn, được nuôi dưỡng bằng ngôn ngữ – văn chương Chăm phát triển cao, lớn lên, may mắn, tôi lại được tiếp nhận văn minh Tây phương ngay khi còn ngồi ghế trung học, nên các trào lưu văn chương tiền phong không quá xa lạ gì với tôi. Hệ quả: tôi khó giữ được cái “thuần phác dân tộc” chân chất nhà quê như các bạn thơ dân tộc thiểu số vốn có” (Trần Nghi Hoàng, Khởi tố thi ca: trước tòa thiên nhiên lục thẩm…Thư viện Việt Nam, 10.05.2005).

Đó chỉ ý kiến của riêng Inrasara, nhưng đối với các nhà phê bình thì thơ Inrasara vẫn có nhiều ẩn ngữ, tràn hạnh ngộ, vừa cô đặc vừa đầy ắp như là trường năng lượng phiêu huyền tích chứa trong lòng tháp, ở đó ngập tràn hình ảnh quá khứ và hiện tại cùng với vận động không ngừng về phía trừu tượng, luôn hủy diệt và làm mới theo cách dạy bảo của thần Shiva. Ngôn ngữ thơ được cô đúc, được làm sống dậy như một yếu tố tâm linh mà ít nhà thơ nào có được.

Trên đây là những ý kiến phê bình, nhận định về thơ Inrasara cũng như về đề tài, nghệ thuật sử dụng ngôn từ đầy uyển chuyển, tinh tế. Với Chăm anh là một người con yêu quê tha thiết, với dân tộc anh là một nhà thơ tài hoa. Thơ Inrasara có thể được đúc kết lại trong Báo cáo tổng kết sáng tác giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn năm 1997 với nhận định: “Với thơ, anh vài năm nay và nhanh chóng thu hút được sự chú ý của bạn đọc cả nước. Cảm xúc anh vừa dào dạt, hồn nhiên lại vừa giàu phẩm chất trí tuệ và tính khái quát. Các bài thơ của anh không ngắn nhưng không sa vào kể lể. Thơ anh giàu sức gợi. Gợi vào cái bát ngát hoang dại của kiếp đá, kiếp người, gợi cả vào cõi xa thẳm những miền cố quận trong không gian, thời gian. Một tình cảm Chăm sâu đậm, u uẩn trong thơ Inrasara quả là đã góp vào thơ Việt Nam một hương vị đáng quý. Rất đáng quý!”

  1. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

Mục đích:

Trong đề tài này chúng tôi đưa ra những mục đích cần phải đạt:

  • Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Inrasara trên tất cả các mặt nội dung và nghệ thuật.
  • Đánh giá tiến trình sáng tác trong thơ Inrasara qua các tập thơ.
  • Đối chiếu thơ Inrasara với các sáng tác của các nhà thơ dân tộc thiểu số khác.

Nhiệm vụ:

  • Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ tài năng Inrasara. Qua các tập thơ đã xuất bản làm rõ được tất cả những khía cạnh về thơ Inrasara. Trên cơ sở đó rút ra được sự phát triển về tư tưởng nghệ thuật, sáng tạo mới về nội dung và sự thay đổi về hình thức thể hiện.
  • Đưa ra những đánh giá về thơ Inrasara đồng thời tham khảo các ý kiến đánh giá của một số nhà thơ, nhà phê bình về thơ Inrasara. Từ đó làm nổi bật các phương diện về nội dung và nghệ thuật thơ Inrasara.
  • Tìm hiểu sáng tác của một số nhà thơ dân tộc thiểu số cùng thời với nhà thơ Inrasara như: Lò Ngân Sủn, Đinh Linh, Lương Định, Mai Liễu… để tìm ra nét khác biệt giữa Inrasara với các nhà thơ đó.
  1. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu:

Trong đề tài này chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích: Phân tích về nội dung và nghệ thuật thơ Inrasara với các mảng về đề tài, cảm xúc thơ, nghệ thuật sử dụng ngôn từ và hình thức thể hiện.
  • Phương pháp tổng hợp: Từ các phân tích ở trên, đưa ra cái nhìn khái quát về tiến trình phát triển trong thơ Inrasara.
  • Phương pháp so sánh – đối chiếu: Sự so sánh về nội dung thể hiện cũng như hình thức thể hiện trong thơ Inrasara với các nhà thơ dân tộc thiểu số cùng thời.
  • Phương pháp thi pháp học: khảo sát cả 5 tập thơ để đưa ra cái nhìn tổng quát về nội dung, nghệ thuật… trong thơ Inrasara
  1. Giới hạn phạm vi đề tài:

Trong thời gian gần đây đã có nhiều ý kiến đánh giá về thơ Inrasara. Tựu chung chủ yếu trên hai bình diện nội dung và nghệ thuật. Thực hiện đề tài này chúng tôi mong muốn có thể đưa ra một cái nhìn thống nhất và toàn diện về thơ Inrasara. Đó cũng là căn cứ để chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu trong đề tài của mình: Phân tích, đánh giá thơ Inrasara theo bề rộng trên hai phương diện chính là nội dung và nghệ thuật.

Là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên về thơ Inrasara nên chúng tôi giới hạn đề tài theo hướng khái quát bề rộng. Từ đó lấy đây làm cơ sở, nền tảng để nếu có điều kiện nghiên cứu tiếp đề tài này chúng tôi sẽ đi sâu phân tích các khía cạnh khác trong thơ Inrasara.

  1. Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn:

Ý nghĩa lí luận: Công trình nghiên cứu này đã khái quát được thơ Inrasara trên bình diện nội dung và nghệ thuật. Từ đó đưa ra tiến trình thay đổi về phong cách qua 5 tập thơ của Inrasara: Tháp nắng (1996), Sinh nhật cây xương rồng (1997), Hành hương em (1999), Lễ tẩy trần tháng tư (2002), Chuyện 40 năm mới kể và 18 bài thơ Tân hình thức (2006). Ngoài ra, để có cái nhìn đầy đủ hơn về sáng tác của Inrasara, chúng tôi có sự đối chiếu với một số nhà thơ dân tộc thiểu số cùng thời với Inrasara.

Ý nghĩa thực tiễn:

Tìm hiểu về thơ Inrasara, nhất là thế giới nghệ thuật trong thơ ông, chúng tôi muốn đưa đến một cái nhìn khái quát về văn học nước nhà trên tiến trình phát triển và kiếm tìm cái mới. Trong đó sự cách tân về nghệ thuật, đặc biệt là sự thể nghiệm mới mẻ về hình thức thơ, nội dung trong thơ là đề tài chủ yếu trong thơ ca hiện đại.

Trên hành trình này, chúng tôi cũng mong muốn đưa ra ý kiến của mình về văn học trẻ hiện nay. Một nền văn học đang có sự tìm tòi và bứt phá, một nền văn học đang có xu hướng đi gần lại với cuộc sống đời thường, kiếm tìm vẻ đẹp trong cuộc sống đời thường. Qua đó cũng là sự kiếm tìm cái tôi, kiếm tìm về bản thể của chính mình trong những con người trẻ. Sự phá vỡ những quy ước về hình thức thể hiện thơ cũng được đề cập.

Mặt khác, công trình có sự đối chiếu về thế giới nghệ thuật thơ Inrasara với các nhà thơ dân tộc thiểu số cùng thời.

Đây là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên về thơ Inrasara, có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên, những người muốn quan tâm, tìm hiểu về thơ của Inrasara.

  1. Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì đề tài nghiên cứu gồm 4 chương. Trong đó:

Chương 1: Nêu khái quát về tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Inrasara với các tác phẩm nghiên cứu, phê bình, sáng tác. Đồng thời đưa ra cái nhìn khái quát về thế giới nghệ thuật trong thơ Inrasara.

Chương 2: Thơ Inrasara trên cái nhìn về phương diện nội dung với việc đi sâu vào đề tài trong thơ ông cũng như cảm xúc thơ được thể hiện trong bài viết.

Chương 3: Thơ Inrasara trên cái nhìn về phương diện nghệ thuật với việc sử dụng ngôn từ một cách đặc biệt, cùng với đó là việc sử dụng hình thức thơ mang nhiều thể nghiệm mới mẻ.

Chương 4: Đánh giá tiến trình thơ Inrasara qua từng giai đoạn cũng như có sự so sánh, đối chiếu với các nhà thơ dân tộc thiểu số khác trong tiến trình phát triển của dòng thơ dân tộc thiểu số.

3 thoughts on “Mở đầu

  1. Pingback: Chương 2: Phương diện nội dung trữ tình trong thơ Inrasara | Cin Corner

  2. Pingback: Chương 1: Vài nét khái quát về nhà thơ Inrasara | Cin Corner

  3. Pingback: Chương 4: Inrasara trong tiến trình phát triển dòng thơ văn học thiểu số | Cin Corner

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s